Showing posts with label Giáo Dục. Show all posts
Showing posts with label Giáo Dục. Show all posts

Monday, September 7, 2026

Tài Ngô - NGÀY XƯA, TÔI THI ĐỆ THẤT

Tác giả: Tài Ngô


Năm 1972 tôi học lớp nhất. Gọi lớp nhất là do quen miệng, kỳ thực trên nhãn vở chúng tôi viết là lớp năm, năm A (trường tôi có hai lớp năm). Tháng ba, thầy Duy dạy lớp tôi bảo cả lớp phải đi chụp mấy tấm hình chân dung 2x3 để dán thẻ học sinh, chuẩn bị thi vào đệ thất. Chúng tôi thích gọi thi đệ thất hơn là thi vào lớp sáu vì lúc ấy đang là giao thời giữa hai tên gọi, một phần chưa quen miệng nhưng kỳ thực cái tên đệ thất nghe sang cả, trang trọng hơn là cái tên lớp sáu dân dã, bọt bèo.
 

Trường tôi học ngày hai buổi, nghỉ nguyên ngày thứ năm và chiều thứ bảy. Thứ năm nghỉ học, tôi với thằng Tiếp, thằng Nhơn cùng xóm rủ nhau đi chụp hình. Tiệm chụp hình nằm trên đường Khải Định, gần chợ Thanh Bình. Lần đầu chụp hình, ông thợ phải chỉ vẽ đủ các kiểu, nào tóc phải rẽ ngôi 3/7, mắt phải nhìn thẳng vào đèn, miệng cười nhưng không được hé môi. Tội nghiệp thằng Tiếp, miệng nó hơi hô nên ngậm được miệng thì mắt lại nhắm tịt mà mắt nhìn vào hướng đèn rọi thì hai cái môi không chịu hợp tác về chung...một nhà. Tôi với thằng Nhơn bụm miệng cười nó càng mắc cỡ. Ông phó nhòm càm ràm một hồi rồi khoát tay ra hiệu hai thằng tôi ra ngoài để ông làm việc. Trên đường về, thằng Tiếp mua ba cây kem đậu xanh loại hảo hạng để trám miệng tôi với thằng Nhơn không bép xép chuyện chụp hình cho mấy đứa nhiều chuyện trong lớp.


Đà Nẵng lúc ấy chia làm 3 quận. Mỗi quận có một trường công để học trò thi vào lớp đệ thất. Quận 1 có trường Phan Châu Trinh dành cho học sinh nam, trường Nữ Trung Học dành cho học sinh nữ (niên khoá 1973-1974 mang tên Nữ Trung Học Hồng Đức), quận II có trường Ngoại Ô (sau này đổi tên thành Thái Phiên), quận III có trường Đông Giang. Học trường công chỉ đóng tiền niên liễm một lần trong năm học, rất rẻ so với gánh nặng học phí mỗi tháng của các trường tư nên học trò cố gắng thi cho đậu. Lớp tôi con trai thi vào Phan Châu Trinh, con gái thi vào trường Nữ trung học, ngoại trừ thằng Tiếp. Anh thằng Tiếp dạy ở Đại Lộc nên nó dự thi vào trường đó để chắc chắn suất đậu. Nói như vậy để biết đậu vào trường công, nhất là hai trường ở quận I vinh dự như thế nào.
 

Ngày trường Phan Châu Trinh nhận đơn, bọn con trai hai lớp nhất trường tôi mang theo thẻ học sinh rồng rắn kéo nhau đi nộp đơn. Không có bóng dáng phụ huynh nào trong khu vực nhận đơn, ở khu thư viện, thính đường (giống như hội trường), mà chỉ toàn những thằng học trò sàn sàn tuổi tôi. Trường cấp cho mỗi đứa một số báo danh. Lớp tôi hầu hết thi ở trường Bồ Đề (nay là Nguyễn Huệ) nằm trên đường Quang Trung. Lấy được số báo danh bọn tôi đứa nào cũng ướt nhẹp mồ hôi, quần áo xộc xệch vì chen lấn. Mệt nhưng mà vui, lòng rộn ràng lâng lâng vì lần đầu ra khỏi cổng trường thân thuộc, chúng tôi đã tự bước đi trên đôi chân non nớt của chính mình.
 

Sang tháng tư, chiến sự ác liệt ở Quảng Trị. Lác đác trên đường phố Đà Nẵng đã thấy dân tản cư bồng bế, gồng gánh. Tháng năm khi đoạn đường xuôi Nam từ thị xã Quảng Trị qua Hải Lăng tới huyện Phong Điền có tên gọi mới là "Đại lộ kinh hoàng" thì không khí chiến tranh đã len vào thành phố, nhiều trường học ở Đà Nẵng đóng cửa để tiếp nhận đồng bào chạy loạn vào lưu trú. Trường tôi không tổ chức lễ bế giảng, tôi tiếc hùi hụi vì mất đi việc nhận phần thưởng danh giá của lớp cuối cấp. Buồn hơn cả là lớp tôi không tổ chức được buổi liên hoan họp mặt chia tay, tôi không nghe được thằng Công, nhỏ Thuỷ, hai cây văn nghệ của lớp song ca bài "Hè về" lần cuối.
 

Chiến sự coi mòi lắng dịu mặc dầu hoả châu vẫn hằng đêm giăng mắc trên trời cũng là lúc bọn tôi lục tục ôn bài để chuẩn bị kỳ thi. Hai ngày cuối tôi không ôn bài nữa mà đọc truyện. Truyện cho tuổi học trò ngoài tủ sách Tuổi Hoa còn có tủ sách Mây Hồng, Trăm Hoa (hai tủ sách sau không hay bằng Tuổi Hoa). Truyện của tủ sách Trăm Hoa khi hết truyện chính người ta thường in thêm những kiến thức phổ thông để hấp dẫn người đọc. Thường mấy đứa mê truyện hay bỏ qua phần kiến thức khi đọc hết mạch truyện chính. Tôi thì đọc tuốt luốt vì biết nhiều thì không bổ sấp cũng...bổ ngửa. Tôi trúng tủ một câu hỏi địa lý khi đọc một cuốn truyện trong tủ sách Trăm Hoa (mà tôi đã quên tên), câu hỏi mà tôi nghĩ rất ít đứa trả lời được.
Buổi sáng thi đầu tiên, người cậu thứ sáu ở cùng nhà chở tôi và bà chị trên tôi đến trường Bồ Đề trên chiếc honda dame. Chị tôi học trên tôi hai lớp, đã đậu vào trường Nữ Trung Học cách đây hai năm. Bà chị đi theo nhằm động viên, khích lệ tinh thần đồng thời chia sẻ kinh nghiệm thi cử. Tới gần cổng trường tôi thấy một toán cảnh sát đứng rải quanh trường, bên cạnh là những cuộn thép gai bung xung chặn đường, không cho phụ huynh đi vào khu vực trường thi. Lần đầu thấy cảnh sát đứng gác, tôi sợ xám hồn, mặt xanh chành như đít nhái. Lo lắng vơi bớt khi tôi bước vào phòng thi ở đầu hồi lầu một, ngó thẳng ra mặt đường Quang Trung. Một bàn chỉ ngồi đúng hai đứa học trò, số báo danh ghi bằng phấn trắng lạnh lùng trên mặt bàn trông thật vô hồn. Mặt đứa học trò nào cũng căng như dây đàn, hồi hộp xen lẫn âu lo không biết đề thi có vừa với sức học của mình không.
 

Môn văn thi đầu tiên, thời gian làm bài là ba giờ. Đề văn ra như sau: Trong giờ giải lao, một số học sinh lớp em phạm lỗi. Thầy hiệu trưởng vào lớp nhắc nhở. Em hãy tường thuật lại. Tôi bị "khớp" vì xưa giờ không nghe được từ giải lao bao giờ (sau này về hỏi mãi mới biết giải lao là giờ ra chơi). Tôi loay hoay mãi cây viết pilot trên tay, mồ hôi tay túa ra dầm dề. Bỏ qua nghĩa của từ giải lao, tôi nghĩ phải viết cái lỗi gì đã xảy ra. Đây là bài văn tường thuật, cái chính là thuật lại cảnh thầy hiệu trưởng vào lớp. Tôi nhớ lại một lần thầy hiệu trưởng nhắc nhở dưới cờ việc học trò khắc tên kỷ niệm vào những thân cây dương liễu trồng quanh sân trường. Tôi viết vào giấy nháp liền một mạch, nhập đề, rồi thân bài cái cảnh thầy vừa nghiêm khắc nhắc nhở vừa trìu mến khuyên bảo học trò hãy giang tay bảo vệ sự sống của cây xanh. Viết được vài dòng nhập đề vào giấy thi thì tôi nghe tiếng đạn giấy bay chiu chíu qua mang tai. Thì ra bên ngoài phòng thi phụ huynh đang quăng giấy nháp bài vào cho thí sinh bằng cách dùng dây thun bắn vào. Không biết đề thi lọt ra ngoài bằng cách nào trong khi cảnh sát đứng quanh trường. Hai giám thị vội vàng đóng hai cánh cửa lớp hướng ra đường, chúng tôi lại cắm cúi làm bài dù bên ngoài tiếng loa nhắc bài vẫn không ngừng nghỉ.
 

Buổi trưa ông cậu đến đón hai chị em tôi. Cậu hỏi làm bài được không tôi cười dạ được. Chị tôi nói có ông phụ huynh làm bài văn hai đứa giành giật ca uống nước rồi oánh lộn nhau. Tôi nói ăn thua là tường thuật, còn cái lỗi gì thì đâu có quan trọng. Ông cậu cười tươi, dẫn hai chị em tôi đi ăn cà ri gà ở quán nằm trên đường Cô Giang gần đó. Đó là lần đầu tiên tôi được ăn quán, mà lại là quán ngon nữa chứ. Lớn lên nhớ đến ông cậu là tôi nhớ đến món cà ri năm nào, đúng là miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời.
 

Buổi chiều thi câu hỏi thường thức, phòng thi của tôi dời qua lầu đối diện. Khoa học thường thức gồm các các câu hỏi trong các môn học: Đức dục, quốc sử, địa lý, khoa học, vệ sinh. Môn này chịu khó học bài đồng thời phải nhớ kỹ vì nhiều bài dây mơ rễ má với nhau, ví dụ môn địa lý tên nước, thủ đô khác nhau; viết thủ đô của nước Pháp là Luân Đôn có mà...đi đầu xuống đất. Tôi làm bài tự tin, trôi chảy. Một câu khó nhất mà tôi cho là hay không bằng...hên vì tôi đã tìm thấy câu trả lời trong cuốn truyện của tủ sách Trăm Hoa cách đây hai ngày. Câu hỏi địa lý đó là: có bao nhiêu nước bị chia đôi như nước ta, hãy kể tên các nước đó. Tôi viết không đắn đo: có ba nước chia đôi tương tự như nước ta. Đó là Đông Đức, Tây Đức; Nam Hàn, Bắc Hàn; Trung Cộng, Đài Loan (nước Đức nay đã thống nhất sau sự kiện “Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989”). Đây là một câu hỏi thuộc loại kiến thức tổng quát, không có trong sách học, chỉ những đứa học trò nào đọc nhiều mới nắm vững được.


Buổi sáng tiếp theo tôi thi môn toán cuối cùng. Có một bài tỷ lệ xích, một bài phân số. Bài quy tắc tam suất nằm ở câu số ba, khó nhất. Bài toán quy tắc tam suất tôi làm gần hết bài thì trống đánh hết giờ. Tôi rời phòng thi mặt ỉu xìu như bánh bao chiều vì bài toán dang dở. Nỗi buồn rồi cũng nhẹ tênh vì dù sao tôi cũng đã vượt qua kỳ thi một cách suôn sẻ cho dù môn toán chưa đi đến đáp số.
Những ngày hè tôi lại ra bãi biển Thanh Bình dang nắng thả diều cùng thằng Tiếp, thằng Nhơn. Con diều no gió tung cánh trên trời xanh cũng là lúc những nhọc nhằn, lo âu về một mùa thi được tôi gởi lại cho trùng khơi đang lồng lộng gió ngàn.


Thằng Tuân rủ tôi đi coi điểm thi. Thằng Tuân học dưới tôi một lớp, nó đi coi điểm cho thằng Dũng, em bạn dì của nó. Hơn ba ngàn thí sinh, trường lấy sáu trăm. Mỗi bảng có tên 50 học sinh. Tôi sợ mình điểm thấp nên coi từ bảng cuối trở lên. Đến bảng thứ mười, không thấy tên mình tôi run như cầy sấy. Chỉ còn hai bảng nữa, lại điểm cao chót vót thì làm sao mà hy vọng. Tôi bần thần, ngẩn ngơ thì nghe tiếng thằng Tuân la lên: Mầy đậu rồi, ở bảng đầu tiên ấy. Tôi điếng hồn, thật hay mơ đây. Lạy trời! Mong thằng Tuân đừng xạo ke. Tôi chạy lại bảng số một. Đúng rồi! tên tôi nằm ở số thứ tự 39, đồng điểm số 26,5 với thằng ở số thự tự 36. Đó là thằng Hoà đen, học lớp 5B cùng trường. Coi lên trên tôi thấy còn có thằng Hưng học cùng lớp với thằng Hoà đen nằm ở số thứ tự 13. Xóm tôi kỳ thi đó chỉ tôi, thằng Thành con, thằng Lực ky đậu, còn lại rớt như sung rụng. Ừ mà còn thằng Tiếp cũng đậu, nhưng đậu tuốt ngoài Đại Lộc. Thằng Tiếp nói nó cố gắng học ở đó nửa niên khoá, thi xong đệ nhất lục cá nguyệt thì xin chuyển về học cùng trường với tôi. Thằng Nhơn rớt vào học Quốc Gia Nghĩa Tử, thằng Nghĩa con ông thiếu tá Soạn, thằng Dũng con bà Tộ học lại lớp nhất để sang năm thi lại (năm sau hai thằng này đều đậu). Con Thuỷ La Sát con ông đại uý Ba cùng thằng Sơn em nó học trường tư. Lớp tôi hai "cựu thù" Nguyên và Long béo trưởng lớp cùng đậu. Thằng Vinh, đối thủ của tôi cùng học lớp 6/5 với tôi. Thằng Nguyên bạn thân của tôi học lớp 6/6 cùng thằng Lễ, Long trưởng lớp học lớp 6/8 cùng thằng Bé đen. Thằng Trung "cận", thằng bạn "tiếp sức" để tôi bị thầy phạt quỳ trong bài viết "Thuyền giấy" học tuốt lớp 6/12. Long con ngồi cùng bàn với tôi học lớp 6/9. Còn có thằng Cẩm hay cắn móng tay cũng đậu, nó học đâu lớp 6/9 thì phải. Thằng Cẩm này còn "tái ngộ" cùng tôi khi tôi về học cấp III tại trường Quế Sơn. Lớp tôi còn có thằng Kiểm, Gioang cũng thi đậu nhưng vào lớp nào thì tôi không nhớ.


Ngày thi đệ thất tôi tuổi mười một, bây giờ tôi ngoài sáu mươi. Có người đã nói nơi xa nhất trên thế giới này là...quá khứ. Con người ta chỉ bước được đến tương lai chứ không thể ngược đường về quá khứ. Quá khứ chỉ quay về trong ký ức mỗi người khi con sóng kỷ niệm miên man nhắc nhớ. Mỗi khi ngang qua trường cũ, lòng tôi lại xôn xao nhớ về kỳ thi đệ thất ngày cũ. Bâng khuâng để tâm hồn lãng đãng khói sương rồi ru ta ngậm ngùi về một thời đã xa hun hút.
P/s Đề thi vào đệ thất năm 1970 (thiếu môn văn).


https://www.facebook.com/tai.ngo.75839923


Saturday, February 21, 2026

Fwd: Lê Nguyên Phương - Kính Gửi Tiếng Việt, Khiêm Gửi Bản Thân

Tác giả: Lê Nguyên Phương
19 February at 23:26

 Tôi có một nhân viên từng nhắn tin cho sếp một câu để đời khi được yêu cầu sắp xếp một buổi họp: "Ok anh, cũng được." Sếp anh, một người Huế gốc, đọc xong rồi im lặng. . . ba tiếng đồng hồ. Không phải sếp bận. Sếp đang ngồi uống chè xanh và suy nghĩ xem nhân viên này vừa phê duyệt hay vừa ban ơn cho mình.

 Sự vụ này cũng khiến tôi nhớ lại một buổi chiều năm ngoái, khi tôi ngồi trong quán cà phê ở Quận 3 và nghe cô bé phục vụ — xinh xắn, nhiệt tình, rõ ràng được đào tạo bài bản — cúi đầu thưa với một bà khách lớn tuổi: "Dạ, bà ơi, bên cháu "cho" bà ly nước lọc ạ." Bà khách mỉm cười. Còn tôi thì khẽ rùng mình — không phải vì lạnh, mà vì vừa chứng kiến tiếng Việt bị lật ngược thứ bậc một cách hồn nhiên đến mức đáng yêu mà đáng lo.

 Người Việt mình có một tật rất dễ thương: sợ thất lễ đến mức thất lễ theo cách khác. Chúng ta biết rằng cần phải lịch sự, biết rằng tiếng Việt có những từ "sang hơn", "nhã hơn". Và thế là chúng ta dùng từ sang nhất cho mọi tình huống, giống như mặc vest đi chợ cá — không sai về đạo đức, chỉ hơi lạc điệu về văn hóa. Biếu. Tặng. Cho. Ban. Thưởng. Đãi. Sáu chữ này trông như anh em ruột sống chung một nhà, nhưng thực ra mỗi người mang một hộ chiếu khác nhau, đi trên những con đường quyền lực ngược chiều nhau, và hễ bạn để chúng đi nhầm đường là cả hệ thống tôn ti lập tức... tắc đường.
 "Biếu" là đường đi lên — con biếu cha, trò biếu thầy, cấp dưới biếu cấp trên. Trong chữ "biếu" có mùi thơm thảo của sự kính trọng. "Tặng" là đường ngang — bạn bè tặng nhau, người yêu tặng nhau, đồng nghiệp tặng nhau nhân dịp sinh nhật. Ngang hàng, thân ái, bình đẳng. "Cho" — và các biến thể cao cấp hơn là "Ban," "Thưởng" — là đường đi xuống: ông bà cho cháu kẹo, vua ban thưởng công thần, thầy cho điểm học trò. Còn Đãi — chữ này đặc biệt hơn một chút, vì nó mang theo không khí của sự hào sảng, của người đứng đầu bàn tiệc vẫy tay mời mọi người ngồi xuống. Chủ nhà đãi khách. Cha mẹ đãi con cái nhân ngày lễ. Người có địa vị đãi người dưới tay. Chính vì vậy, khi tôi về Huế gặp một cậu học trò đang ăn trưa với học trò của anh ta, với lòng ưu ái một bạn trẻ dấn thân trong sự nghiệp giáo dục, tôi đã trả tiền ăn cho bàn đấy. Thế là cậu ta liền đăng một tút trên Phây là được thầy "mời." Về mặt ngôn ngữ học, cậu ta vừa tự phong mình làm khách và xếp thầy vào hàng... được ban ơn. Tiền thì đã trả rồi và thứ bậc đã bị lật ngược từ trong câu chữ. Dùng chữ cho có học, tất nhiên, là "Tôi được thầy đãi" — chữ đãi đúng chiều, không ai bị xúc phạm, trật tự vũ trụ được bảo toàn.

 Vậy mà cô bé phục vụ kia vô tư dùng chữ cho — đường xuống — khi trao nước cho bà khách — đường lên. Kết quả: về mặt ngữ pháp tôn ti, bà khách và cô bé vừa được đảo ngược nhau nhau trong một tích tắc. Không có gì sai về tình người. Chỉ có tiếng Việt đang thở dài.. Điều đúng chỉ đơn giản là: "Dạ, nhà hàng xin biếu/tặng bà ly nước ạ." Nhưng thôi, biết đâu trong tương lai gần, các quán cà phê sẽ treo biển "Chúng tôi cho quý khách wifi " và không ai thấy có gì cần lên tiếng — kể cả wifi.

 Trở lại người nhân viên của tôi và câu nhắn tin tình cảm "Ok anh, cũng được." Cậu áy không cố tình vô lễ. Cậu ấy chỉ đang dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt trong đầu theo kiểu "Sure, that works" — hoàn toàn ổn trong văn hóa giao tiếp thẳng thắn kiểu Tây. Nhưng khi đổ vào khuôn tiếng Việt, nó trở thành một câu khiến người nghe phải tự hỏi: "Vừa rồi ta xin phép nhân viên à?" Chữ được trong "cũng được" mang mùi vị của người đang phê duyệt, xem xét, chấp thuận — ngôn ngữ của người có quyền quyết định. Khi người dưới dùng nó với người trên, câu nói ấy âm thầm hoán đổi ghế ngồi giữa hai người mà không cần thông báo trước. Cái đúng thì đơn giản lắm: "Dạ vâng anh, em sẽ có mặt đúng giờ." Không cần hoa văn. Chỉ cần đúng chiều gió.

 Và nói đến "Dạ vâng" — đây là hai chữ mà thế hệ trẻ đang dần thay bằng một chữ duy nhất, nhập khẩu nguyên bản, không qua kiểm dịch ngôn ngữ: "Ok." Hai chữ cái. Không chủ ngữ, không vị ngữ, không kính ngữ, không cảm xúc, không gì cả ngoài sự tồn tại tối giản của chính nó. Dùng "Ok" với người lớn tuổi giống như buông thõng bàn tay để người khác nắm giật giật; về kỹ thuật, đôi tay đã chạm nhau, nhưng về tinh thần, cuộc gặp gỡ chưa thực sự xảy ra. Dĩ nhiên, thế hệ trẻ có lý lẽ riêng: "Nhanh mà, ai rảnh gõ cả câu." Lý lẽ ấy rất thuyết phục. Rất hiện đại. Và nếu bạn đang nhắn tin cho bạn bè cùng trang lứa thì hoàn toàn không vấn đề gì. Nhưng khi dùng với người trên, "Ok" không chỉ là cách viết tắt — nó là cách "tắt" cả sự tôn trọng.

 Có mấy từ tôi sợ nhất trong tiếng Việt, có lẽ, là bộ tứ diện kiến -- tiếp kiến — yết kiến — chiêm bái — bốn động từ mà Google Translate đang dần dần, không khoan nhượng, xóa sổ khỏi vốn từ của người trẻ. Ngày xưa, khi một vị quan muốn gặp vua, ông không nói "Em sắp lịch gặp anh nhé." Ông yết kiến — động từ ấy chứa đựng cả một lễ nghi, cả một khoảng cách được thừa nhận, cả một sự tự nhận mình là bé nhỏ trước điều vĩ đại hơn. Nhà vua, khi chịu khó dành thời gian, thì tiếp kiến — động từ đi xuống, đầy ân điển. Còn người hành hương lên chùa gặp cao tăng thì chiêm bái — không chỉ là gặp, mà là ngưỡng nhìn, là để lòng mình nhỏ lại trước điều thiêng liêng. Còn diện kiến? Nó được sử dụng để chỉ khi người dưới gặp người trên. Bốn động từ, bốn tầng ý nghĩa, ba mức độ của sự khiêm hạ. Mà dùng quá thì cũng sai. Nói với bạn bè "ngày mai tao diện kiến mày nhé" thì đáng gọi là "dốt mà hay nói chữ." Ngày nay chúng ta gọp chung tất cả 4 chữ trên vào một chữ gặp, hoặc sang hơn thì meet, mà người Huế có câu "sang trọng đứt họng lòi gân." Tôi hoàn toàn hiểu — cuộc sống hiện đại cần tốc độ. Nhưng khi ngôn ngữ mất đi sắc thái, con người cũng mất đi thứ gì đó khó đặt tên — mất đi khả năng cảm nhận khoảng cách đúng mực giữa người với người, thứ khoảng cách không phải để phân biệt, mà để tôn trọng, để thể hiện mình là người có văn hóa.

 Tôi không muốn kết thúc bài này bằng một bản án, vì những lỗi kể trên không phải lỗi của ác ý — chúng là lỗi của sự thay đổi chưa kịp tiêu hóa. Hay là lỗi của. . . nhà trường. Chúng ta lớn lên trong một thời đại mà tiếng Anh và văn hóa phương Tây dạy rằng giao tiếp hiệu quả là giao tiếp thẳng thắn, nhanh gọn, bình đẳng. Rất nhiều điều đúng trong triết lý ấy. Nhưng tiếng Việt không phải tiếng Anh — tiếng Việt là ngôn ngữ của trọng tình và trọng tôn ti, và xin nhắc các bạn, nó có đến nhiều ngàn năm lịch sử. Hai thứ tiếng với hai nền văn hóa đôi khi mâu thuẫn nhau nhưng thường bổ sung cho nhau theo những cách rất đẹp. Khi ta nói "Con biếu bà cái bánh" thay vì "Con cho bà", ta không chỉ chọn một từ — ta đang thừa nhận một mối quan hệ, đang nói bằng ngôn ngữ rằng bà ở một tầng cao hơn trong tim con, và con muốn chữ nghĩa con dùng phản ánh điều đó. Đó không phải hủ nho. Đó là tình nghĩa. Mà tình nghĩa thì chọn chi "đường ngang lối tắt."

 Người ta hay dạy dỗ tôi rằng: "Tiếng Anh nó đơn giản, bình đẳng, ai cũng như ai. Thật là 'hại điện' à quên 'hiên đại'" Mỗi lần nghe vậy, tôi chỉ mỉm cười theo kiểu người biết một bí mật mà không muốn phá vỡ không khí. Hay không dám nói là quý vị chưa biết Shakespeare là thằng cha nào. Vì sự thật là tiếng Anh không hề "bình đẳng" — nó chỉ giỏi giấu sự bất bình đẳng hơn tiếng Việt mà thôi. Tiếng Việt cho hẳn tôn ti ra ngoài, rõ ràng như sơ đồ tổ chức của một tập đoàn — ai trên ai dưới, ai biếu ai cho, ai yết kiến ai tiếp kiến, tất cả đều hiện lên ngay trong từng chữ. Còn tiếng Anh thì khéo léo hơn: nó nhét toàn bộ hệ thống đẳng cấp vào trong cấu trúc câu, vào modal verb (would/could), vào giọng bị động (passive voice) — rồi đứng đó với vẻ mặt vô tư như chưa có chuyện gì xảy ra.

 Xưa kia, tiếng Anh có Thou và You — hai đại từ phân ngôi rõ ràng không kém gì mày với ngài trong tiếng Việt. Thou dùng cho kẻ dưới, cho trẻ con, cho người thân. You — ban đầu là số nhiều — dần trở thành kính ngữ dành cho bề trên và người lạ. Nghe quen không? Cũng như tiếng Pháp, "tu" và "vous" đấy. Chính xác là cái logic mà chúng ta dùng khi chọn giữa mày và anh, giữa tao và em. Thế rồi người Anh làm một việc rất người Anh: họ hoảng loạn. Vì chỉ cần dùng thou nhầm đối tượng một lần là xong — năm 1603, quan công tố trong phiên tòa xét xử Sir Walter Raleigh đã dõng dạc quát: "I thou thee, thou traitor!" — dùng thou để gọi một hiệp sĩ, tức là một cú tát ngôn ngữ vào mặt người ta giữa thanh thiên bạch nhật. Quá nguy hiểm. Thế là người Anh quyết định dẹp luôn thou cho lành, rồi gọi tất cả mọi người là you cho an toàn. Có lẽ người Việt đôi khi chỉ có một mình, nhưng lại tự xưng là "chúng tôi" có thể không phải đoạt quyền đại diện mà là khiêm ngữ không?

 Nhưng đừng tưởng người Anh bỏ cuộc "thou-you" dễ vậy. Họ không bỏ tôn ti — họ chỉ chuyển nó sang địa vị khác. Thay vì nói thẳng "Tôi muốn anh làm việc này" với sếp, một nhân viên người Anh thế kỷ 18, lẫn một số bây giờ, sẽ nói: "I beg to suggest/to differ...", "Would you mind. . .," hay "May I venture to state..." — tức là "Em xin 'mạo muội' thưa rằng..." nhưng bằng tiếng Anh, kiểu như mặc vest đi uống trà chiều. Cái beg đó không liên quan đến cơ chê "xin cho" nhé bạn — đó là khiêm ngữ được ngụy trang bằng lịch sự. Và đến tận ngày nay, khi một nhân viên người Anh hỏi sếp "Would you happen to have a moment?" thay vì "Anh rảnh không?" — họ đang dùng chính xác cái logic mà người Việt dùng khi chọn "Dạ, em xin phép thưa anh..." thay vì "Ê, nghe này." Tiếng Anh giấu sự khiêm hạ trong vòng vo của cấu trúc câu. Tiếng Việt trình nó ra, thẳng thắn, không xấu hổ. Ai tinh tế hơn? Tôi không dám phán. Chỉ biết rằng khi người ta bảo tiếng Anh "bình đẳng" và tiếng Việt "phức tạp" — thực ra họ đang so sánh một người mặc quần lót màu đen trong quần lụa trắng, còn người kia mặc quần lót màu da người, vậy thôi. Cả hai đều mặc quần lót và không có ai đang ở truồng cả.

 Đọc xong lá thư này, có lẽ các bạn trẻ sẽ bảo: "Thầy ơi, tiếng Việt như võ Thiếu Lâm — học cả đời chưa chắc hết bài." Tôi gật đầu, nhấp một ngụm chè xanh, rồi thầm nghĩ: đúng quá xá. Nhưng không chịu học thì uổng lắm. Mà uổng nhất là khi ta nghĩ mình là lịch sự nhất đời — trong lúc tiếng Việt đang lặng lẽ lắc đầu ở phía sau lưng: "Cái hay không học thì học cái gì."

 P/S: Nếu bạn đọc xong bài này mà vẫn muốn nhắn "Ok" cho sếp — thì ít nhất hãy thêm chữ "ạ" vào cuối. Tiếng Việt sẽ không tha thứ hoàn toàn, nhưng sẽ bớt thở dài hơn một chút.

 Notes: Năm nay nổi hứng, chắc sẽ viết loạt bài trào phúng. "Cái gì cũng biết mà không biết điều. Cái gì cũng có ý mà không ý tứ."

Sunday, September 14, 2025

Fw: Thói hư tật xấu của người Việt: Mê muội hưởng lạc, Lười nhác, ốm yếu, Tệ nạn

Trong con mắt các nhà tri thức nửa đầu thế kỷ XX
Thói hư tật xấu của người Việt: Mê muội hưởng lạc, Lười nhác, ốm yếu, Tệ nạn


Vương Trí Nhàn
Thứ Tư - 11 Tháng Mười Một, 2015

Mê muội hưởng lạc

(Nguyễn Trường Tộ, tám việc cần làm gấp, 1867)

Có những người nộp một quan tiền thuế mà tựa hồ bị cắt mất một miếng thịt, rên siết than vãn, thế mà đến sòng bạc thì cầm nhà bán cửa không tiếc. Có những hạng giàu có phong lưu, ăn mày chầu chực trước nhà không xin nổi một đồng điếu, người làng thiếu thuế không vay lợi được một quan, thế mà đến chỗ ăn chơi thì ngàn vàng mua một trận cười, trong cơn sát phạt, trăm vạn chỉ đặt một tiếng. Hạng người này nhiều lắm, không xe nào chở hết...

Cũng có nhiều người mới học kha khá đã truy hoan, ngày nào cũng mài miệt trong cuộc đỏ đen, thường lui tới các chủ nợ hứa với người ta rằng "Đợi tôi dạ một tiếng trước cổng trường(1) thì mọi việc sẽ đâu vào đấy". Rắp tâm hành động như thế, rõ ràng là quan trộm cướp của công chứ còn gì?

(1) tức là thi đỗ, rồi ra làm quan tha hồ kiếm chác.

Lười nhác, ốm yếu

(Phan Bội Châu, Bàí diễn thuyết tại trường Quốc học Huế, 1926)

Người nước ta quý trọng các ông thầy đồ lưng dài tốn áo ăn no lại nằm đã thành ra một cái bệnh gần chết không có thuốc chữa. Đến lúc sóng Âu Châu ập vào, người ta coi chừng đã tỉnh dậy, nhưng mà công phu về đường thể dục còn chưa nghiên cứu đến nơi. Cái căn tính lười nhác đã quen nết lâu ngày, lại nhiều điều thói đãng tính dâm dê (1) cho hại đến sinh mệnh, người ta lấy thế làm sự thường, không lo đường cải cách nào là công khóa (2) về đường thể thao, nào là lợi ích về cách vận động. Trong một ngày có 12 giờ nửa ngồi chết trước cuộc tài bàn (3), nửa nằm chết bên đèn thuốc phiện. Vận động đã không có công phu thì huyết mạch lấy gì làm lưu thông, huyết mạch đình trệ thì thân thể phải hèn ốm cho rồi, dân mới hóa ra dân nô lệ, nước mới hóa ra nước bạc nhược.

(1) thói đãng là cách sống buông thả, riêng dàm dê là gì, chúng tôi chưa tra cứu được, không rõ có phải là dàm dê hay không?

(2) những công việc khi vào học phải làm là công, những học trò phải học là khóa, gọi chung là công khóa (Theo Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).

(3) một loại tổ tôm, nhưng chỉ có ba người, và đánh không có chừng mực nào cả (theo cách giải thích của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục).

Đầy rẫy tệ nạn

(Đỗ Đức Dục, vấn đề tổ chức những thì giờ nhàn rỗi của người bình dân ở xứ ta, Thanh Nghị, 1945)

Thử nhìn vào đám dân quê dư dật xem họ có việc gì, ta thấy ngoài công cuộc làm ăn, họ chỉ còn quân bài lá bạc thuốc phiện hay cô đầu. Đám dân nghèo cũng vậy, không phải là họ không biết cờ bạc, ngược lại càng nghèo họ càng lăn vào cuộc đỏ đen, hòng kiếm thêm ít tiền mà mồ hôi nước mắt không đủ mang lại cho họ. Thành ra, từ trên xuống dưới, giàu cũng như nghèo, không to thì nhỏ, cờ bạc đã trở nên một tập quán ăn sâu vào đầu óc dân chúng, đó thực là một mối tai ương cho dân tộc ta vậy.

Ngoài ra nếu không cờ bạc thì người ta lại đua nhau đồng bóng, lễ bái nhảm nhí, từ đó sinh ra biết bao nhiêu mối tệ đoan khác.

Nguồn:Thể thao & Văn hóa (2006)

Monday, August 18, 2025

Khổng tử: Ba nhân tám là 23 (3x8=23)

(Sưu tầm)

Ba nhân tám rõ ràng là 24, vì sao lại là 23? Câu chuyện Nhan Uyên và Khổng Tử sẽ cho bạn biết tại sao như vậy…Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.

Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải.

Anh bước đến hỏi, mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.

Chỉ nghe người mua hét lớn: "Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?"

Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói:

"Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa".

Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói: "Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!"

Nhan Uyên đáp: "Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?"

Người mua nói: "Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?"

Nhan Uyên trả lời: "Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan". Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.

Khổng Tử nói: "Ba nhân tám là 23", Nhan Uyên lòng không phục.

Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói:

"Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!"

Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ.

Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.

Đối với lời phân xét của Khổng Tử, Nhan Uyên biểu hiện là tuân theo, nhưng trong tâm lại không phục.

Anh cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa.

Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học…

Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.

Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu:

"Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ".

Nhan Uyên đáp lại một câu: "Con xin ghi nhớ", rồi rời đi.

Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to.

Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa.

Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: "Ngàn năm cổ thụ không náu thân"…

Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng.

Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia.

Nhan Uyên kinh ngạc: "Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?"

Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.

Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: "Sát nhân không rõ chớ động thủ", bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.

Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói:

"Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?"

Khổng Tử có đúng là có thể nhìn trước được tương lai?

Nhan Uyên cảm thấy kính phục sâu sắc, cũng đã biết được ẩn ý của Khổng Tử

Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: "Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: "ngàn năm cổ thụ không ai náu thân", con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con "sát nhân không rõ chớ động thủ"!"

Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: "Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!"

Mạng người quan trọng hay địa vị quan trọng?

Khổng Tử lại nói tiếp: "Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói ba nhân tám bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói ba nhân tám bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?"

Nhan Uyên bỗng nhiên tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: "Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!"

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ.

Lời bình
Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm:

"Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?"

Cũng như vậy,

Đôi khi bạn tranh đấu giành được điều bạn cho là lẽ phải,

Nhưng điều mất đi có lẽ còn quan trọng hơn;

Luôn luôn phân rõ sự tình nặng nhẹ".

Đừng gắng sức tranh giành, rồi sau hối hận không kịp!

Rất nhiều chuyện không cần tranh giành,

Lùi một bước biển rộng trời cao.

Hơn thua với khách hàng, thắng ấy cũng là thua (khi sản phẩm mới cần đổi mẫu, bạn sẽ biết)

Hơn thua với ông chủ, thắng ấy cũng là thua (cuối năm lúc đánh giá thành tích, bạn sẽ biết)

Hơn thua với người già, thắng ấy cũng là thua (người ta không để ý tới bạn đâu, bạn vẫn phải tự mình làm thôi)

Hơn thua với bằng hữu, thắng ấy cũng là thua (làm không tốt sẽ mất đi một người bạn)

Lá trà nhờ nước sôi mới có thể tỏa ra mùi hương thơm ngát,

Sinh mệnh vượt qua bao trắc trở, mới để lại tiếng thơm cho đời…

Hiểu được điều đó sẽ luôn luôn cảm ơn cuộc đời… vậy là hạnh phúc nhất đấy.

Giáo dục là một vấn đề vô cùng trọng yếu!

Bất luận điều gì chưa rõ, hãy cùng nhau bàn bạc giải quyết.

Nếu không, sai một niệm có thể sẽ hỏng một đời…

Thật là những suy nghĩ sâu sắc!
(Tinh Hoa)

Friday, July 25, 2025

Hiệu ứng Dunning & Kruger – ngochieu.com

Tác giả: Ngoc Hiếu 
26/02/2019
https://ngochieu.com/hieu-ung-dunning-kruger/



Hiệu ứng Dunning & Kruger (Dunning & Kruger Effect) là một trong những khái niệm mang tính nền tảng của Product Design (bao trùm luôn cả UX và UI Design).

Tuy nhiên trước khi viết về những ảnh hưởng của hiệu ứng Dunning-Kruger lên UX Design, trong bài này tôi sẽ giới thiệu chung về hiệu ứng Dunning & Kruger và những "ứng dụng" của nó trong cuộc sống.

Khái niệm này được được đặt theo tên của 2 giáo sư chuyên về psychology người Mỹ là David Dunning và Justin Kruger.

Tôi có bản đầy đủ của nghiên cứu này, bạn nào có hứng thú muốn tìm hiểu thì có thể tải về tại liên kết này (https://www.hieu.tv/thuvien).



Hiệu ứng Dunning & Kruger mô tả về mối tương quan giữa sự hiểu biết của một người về một lĩnh vực và mức độ tự tin của họ trong lĩnh vực đó.



Cụ thể, Dunning & Kruger mô tả quá trình này diễn ra như sau:

Khi chưa biết gì về lĩnh vực nào đó thì mức độ tự tin của một người sẽ bằng 0 → điều này dễ hiểu và không có gì để bàn.
Vấn đề bắt đầu thú vị khi những người bắt đầu biết sơ sài về một lĩnh vực nào đó thì thường có xu hướng lầm tưởng là mình đã rất giỏi trong lĩnh vực ấy. Họ rất tự tin về những phát biểu của mình, hay thậm chí đi chỉ dạy người khác. Giai đoạn này gọi là Peak of Mt. Stupid – Đỉnh cao của ngu ngốc.
Khi bắt đầu đào sâu nghiên cứu, sự tự tin này ngay lập tức rớt xuống gần như bằng không. Giai đoạn này gọi là Valley of Despair – Thung lũng của sự thất vọng.
Nếu họ vẫn tiếp tục tìm hiểu, mỗi ngày sự hiểu biết của họ sẽ mỗi tăng – song song đó sự tự tin của họ dần tăng dần trở lại. Giai đoạn này gọi là Slope of Enlightment – Con dốc của sự khai sáng.
Việc tăng dần này sẽ tiếp tục cho đến khi người đó trở thành một chuyên gia, khi mà họ đã hiểu tường tận từ trong ra ngoài lĩnh vực đó. Lúc này sự tự tin cũng sẽ tăng đến một mức độ ổn định. Giai đoạn này gọi là Plateau of Sustainability – Cao nguyên của sự bền vững. (Tuy nhiên, dù mức độ tự tin ở giai đoạn này có cao thì cũng hiếm khi nào cao bằng Peak of Mt. Stupid).
Vài ví dụ về hiệu ứng Dunning & Kruger

Hiệu ứng Dunning & Kruger xảy ra gần như khắp nơi. Chúng ta ít nhiều ai cũng từng đi qua những giai đoạn này.



Trong đó có một lĩnh vực mà hiệu ứng Dunning & Kruger rất thường xảy ra, đó chính là… khởi nghiệp.

Nhiều bạn trẻ nghe những câu chuyện thành công + đọc thêm vài quyển sách về quản trị và đầu tư. Lúc này các bạn ấy chỉ vừa bắt đầu tìm hiểu về quản trị và điều hành, rất nhiều nhiệt huyết nhưng lại không ý thức được mình đang ở ngay giai đoạn Peak of Mt. Stupid. Nếu không tỉnh táo + có người can = thì thường dẫn đến kết quả là… khởi nghiệp.

Điều này lý giải vì sao tỉ lệ thất bại trong những trường hợp này rất cao. Và cũng lý giải vì sao có rất nhiều người dẫu dày dạn kinh nghiệm vẫn rất e dè với chuyện tự đứng ra khởi nghiệp.



Một ví dụ khác là lái xe. Theo thống kê thì với những người mới lái xe, nếu lỡ có xảy ra tai nạn thì cũng chỉ là những va quẹt nhỏ, không quá nguy hiểm.

Giai đoạn nguy hiểm nhất chính là khoảng thời gian đã lái được từ 2 – 3 năm, những người này được gọi là các cocky driver. Đây là giai đoạn họ nghĩ rằng mình đã là những tay lái lụa và thường hay thích "biểu diễn" những kỹ năng lái xe của mình — tuy nhiên họ lại chưa đủ kinh nghiệm để có được những phản xạ mà chỉ những người lái xe lâu năm mới có.

Những tai nạn xảy ra trong giai đoạn này thường là tai nạn lớn, xảy ra ở tốc độ cao.



Trong lĩnh vực đầu tư có câu nói rất hay là: "When your taxi driver is telling you to buy stock, you know it's time to sell" – Tạm dịch: "Khi người tài xế taxi khuyên bạn nên đầu tư vào chứng khoán, bạn biết đó là thời điểm nên bán".

Hoặc như trào lưu crypto currency năm ngoái cũng có một câu tương tự: "When the housewives become a crypto expert, it's time to run" – Tạm dịch: "Khi các bà nội trợ cũng bắt đầu trở thành chuyên gia về crypto, bạn biết đó là lúc nên tháo chạy".

— (Lưu ý là các ví dụ trên không có ý xúc phạm những người lái taxi hay những bà nội trợ, người ta chỉ mượn hình ảnh đó để chỉ những người đang trong Peak of Mt. Stupid).

Khi biết về hiệu ứng Dunning & Kruger, ta sẽ tự nghiệm ra được rất nhiều ví dụ thú vị khác từ cuộc sống hàng ngày.



Những lợi ích khi hiểu về Dunning & Kruger Effect

Hiểu về hiệu ứng này sẽ giúp được cho chúng ta ý thức được bức tranh toàn cảnh trong quá trình phát triển chuyên môn. Nhờ đó giúp ta ý thức được rằng:

Khi mới tìm hiểu về một lĩnh vực nào đó, chúng ta biết mình đang đi qua đỉnh "Peak of Mt. Stupid". Nhờ đó chúng ta tự biết rằng giai đoạn này tốt nhất là nên im lặng và tiếp tục trau dồi kiến thức.
Chúng ta cũng biết rằng không nên nghe theo lời những đứa đang ở đỉnh cao Mt. Stupid này (như trong ví dụ về đầu tư bên trên).
Trong công việc, nhờ hiệu ứng Dunning & Kruger chúng ta biết rằng những kẻ nói nhiều nhất, lớn họng nhất trong công ty không phải lúc nào cũng đúng (thường là ngược lại).
Và nhờ hiệu ứng Dunning & Kruger, ta biết rằng để trở nên tự tin (mà không ngu xuẩn), ta phải là một specialist – chọn cho mình những lĩnh vực yêu thích và đi đến tận cùng của lĩnh vực đó. Không nên là generalist – như cái tivi kênh nào cũng bắt nhưng không có kênh nào nét.
Khi nào ta nên mở miệng trở lại?

Như vừa viết bên trên: khi mới biết về một lĩnh vực gì đó thì tốt nhất là nên im lặng và âm thầm tiếp tục trau dồi.

Vậy câu hỏi sẽ là: "Đến một lúc chúng ta đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm, làm sao để biết rằng những gì chúng ta biết đã đủ giá trị để có thể chia sẻ ra cho xung quanh? Vì ai cũng biết, chia sẻ chính là cách nhanh nhất để nâng cao kiến thức".

Hiểu về hiệu ứng Dunning & Kruger rồi thì trả lời câu hỏi này rất đơn giản: Khi nào còn chưa rớt xuống cái thung lũng kia (Valley of Despair) nghĩa là chúng ta vẫn còn đang ở trên đỉnh Mt. Stupid, hãy tiếp tục im lặng. Khi nào rớt xuống rồi tự khắc ta sẽ biết – và qua thời gian cũng sẽ tự có câu trả lời là có nên mở miệng ra hay chưa.



Nhìn xung quanh các quán cà phê, quán nhậu ở Việt Nam. Ta dễ dàng thấy được rất nhiều "chuyên gia" đang ngồi trên đỉnh Mt. Stupid và bàn tán về đủ mọi chủ đề: từ chiến lược quân sự ở Afganistan, đến chiến tranh thương mại Mỹ Trung, đến sách lược đầu tư chứng khoán,…

Đừng trở thành một trong số đó! Và nếu có lỡ rơi vô khung cảnh như vậy thì cách hay nhất là: trừ khi chúng ta là cố vấn quân sự của Lầu Năm Góc, tiến sĩ kinh tế vĩ mô hoặc chuyên gia phân tích của JP Morgan,… còn không thì tốt nhất nên im lặng.

Mà thật ra nếu có đang giữ các vị trí trên mà lỡ ngồi trong bàn nhậu như vậy thì tốt nhất cũng nên im lặng 🙂


Có một nghiên cứu khác cũng khá thú vị của Phillip G. Armour có đôi chút liên quan đến chủ đề này, tôi đã có viết một bài tại đây: 5 mức độ ngu dốt (https://ngochieu.com/5-muc-ngu-dot/).

Sunday, July 13, 2025

Liem Mai - 𝗖𝗵𝗶̀𝘂 𝗰𝗵𝘂𝗼̣̂𝗻𝗴 𝗵𝗮𝘆 𝗖𝗵𝗶𝗲̂̀𝘂 𝗰𝗵𝘂𝗼̣̂𝗻𝗴?

Tác giả: Liem Mai

- Mời anh dùng nước.
- Đây không phải là trà, thế nước uống gì vậy anh?
- Cái này là nụ vối, người ta gọi là trà nụ vối, hay là trà vối. Pha như pha trà. Uống tiêu cơm mà không mất ngủ.
- Vâng, để tôi xin anh một ít đem về nhà uống.
- Hôm nay anh muốn nói chuyện gì đây anh?
- À, tôi muốn hỏi anh một điều về chánh tả. Chìu chuộng không có Ê hay là Chiều chuộng, có Ê?
- Tại sao anh hỏi điều này?
- Xưa nay tôi vẫn nghĩ Chiều Chuộng là đúng chánh tả. Nay có người cho hay Đại Nam Quấc (ML – tức Quốc) Âm Tự Vị của Paulus Huình (ML – tức Huỳnh) Tịnh Của ghi là Chìu Chuộng, nên cho Chìu Chuộng là đúng. Anh nghĩ sao?
𝗖𝗵𝗮́𝗻𝗵 𝘁𝗮̉ 𝗾𝘂𝗮 𝗧𝘂̛̣ đ𝗶𝗲̂̉𝗻
- Khi bàn luận về chánh tả, tôi thường cổ võ việc dùng tự điển. Cũng như trong các ngôn ngữ khác, đây là cách dễ dàng và hiệu quả. Trong trường hợp này, với các tự điển tiếng Việt tôi thường dùng (xem [1] -> [11] trong phần tham kháo cuối bài), 6 cuốn xuất bản trước 1975, 5 cuốn sau 1975 thì tất cả mọi tự điển, ngoại trừ [1] đều ghi Chiều Chuộng, chỉ có [1] ghi Chìu chuộng. Thế thì anh cũng đoán kết luận là chữ nào đúng chánh tả.
- Lỡ như thiểu số thắng đa số trong trường hợp này thì sao hả anh?
- Vâng, điều này cũng không phải là không thể xảy ra. Tôi đã viết một bài đánh giá các tự điển. Riêng về tự điển của Huỳnh Tịnh Của (1895), đây là cuốn tự điển chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, khi chữ Quốc ngữ mới được dùng song song với chữ Pháp trong hành chánh vai mươi năm, tức là khi chữ Quốc ngữ còn trong giai đoạn đang sơ khai. Sau này, khi có những công trình nghiên cứu về tiếng Việt được tiến hành, chánh tả được cải tiến theo chiều hướng hợp lý tránh những phát âm sai địa phương gây sai cho cả nước. Do đó, [1] chỉ nên dùng để tham khảo chứ không nên cả tin.
- Anh nghĩ lý do gì mà [1] ghi sai không anh?
- Ông Huỳnh Tịnh Của là một người uyên bác, biết chữ Pháp lần chữ Nho. Tuy nhiên ông là người Nam, sinh quán ở Bà Rịa. Một số người Nam với các âm ÊU, IÊU thường hay nói thành IU. Thí dụ:
"Bay kêu thằng Tư sang cho tao biểu"
nói thành
"Bay kiu thằng Tư sang cho tao bỉu"
Trong trường hợp này, tôi ngờ rằng Chiều chuộng bị nuốt chữ Ê biến thành Chìu chuộng và đi vào tự điển [1] qua ngả đó.
- Anh nói phải. Dùng tự điển là cách dễ dàng nhất cho mọi người. Nhưng không phải ai cũng có nhiều tự điển như anh. Thế thì làm sao?
- Cám ơn anh hỏi một câu trúng ý tôi. Nếu bảo tôi chọn ra ba tự điển thì đây: [6], [11] và [2], theo thứ tự giá trị qua sự đánh giá của tôi.
Tự điển [6] (1970) do Lê Ngọc Trụ soạn chung với Lê Văn Đức, thật ra hiệu đính về chánh tả. Ông Trụ, người Nam, là chuyên viên hàng đầu về chánh tả Việt ngữ, giáo sư môn Chánh tả tiếng Việt tại đại học Văn Khoa miền Nam trước 1975, có nhiều công trình nghiên cứu về chánh tả từ thập niên 1930, kéo dài hơn 40 năm sau đó. Tự điển [11] (2021, in lần đầu 1988) do Hoàng Phê, anh ruột nhà toàn học Hoàng Tuỵ, soạn cùng một số người khác, tôi cho là khá nhất trong các tự điển xuất bản sau 1975 tại Việt Nam. Tự điển [2] do hội Khai Trí Tiến Đức (1931), quy tụ nhiều tinh hoa học thuật thời đó, soạn ra. Tuy nhiên do thời gian quá lâu, những công trình nghiên cứu sau này đã chỉ ra một số điểm sai. Đây là lý do tôi xếp ba tự điển này, theo thứ tự giá trị như thế.
𝗧𝗿𝗼𝗻𝗴 𝗯𝗮 𝘁𝘂̛̣ đ𝗶𝗲̂̉𝗻 𝗻𝗮̀𝘆, [𝟲], [𝟮] đ𝗮̃ 𝗰𝗼́ 𝘀𝗮̆̃𝗻 𝘁𝗿𝗲̂𝗻 𝗺𝗮̣𝗻𝗴, [𝟭𝟭] 𝘁𝗵𝗶̀ 𝗺𝘂𝗮 𝗿𝗮̂́𝘁 𝗱𝗲̂̃ 𝗱𝗮̀𝗻𝗴 𝗼̛̉ 𝗩𝗶𝗲̣̂𝘁 𝗡𝗮𝗺. Sự khác biệt giữa ba tự điển không nhiều, khi có khác biệt thì theo sự xếp hạng bên trên mà quyết định. 𝗩𝗮̣̂𝘆 𝘃𝗶𝗲̣̂𝗰 𝗯𝗮̉𝗼 𝗸𝗵𝗼̂𝗻𝗴 𝗰𝗼́ 𝘁𝘂̛̣ đ𝗶𝗲̂̉𝗻 đ𝗲̂̉ 𝗵𝗼̣𝗰 𝗵𝗼̉𝗶, 𝗯𝗮̀𝗻 𝗹𝘂𝗮̣̂𝗻 𝗹𝗮̀ 𝗰𝗵𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻 𝗸𝗵𝗼́ 𝗯𝗶𝗲̣̂𝗻 𝗺𝗶𝗻𝗵 đ𝘂̛𝗼̛̣𝗰. Không dùng tự điển nào, chỉ dựa theo trí nhớ về những gì học vài chục năm trước, thì hoang mang hay sai lạc về chánh tả là lẽ đương nhiên.
- Cám ơn anh nêu điểm quan trọng này. Như vậy theo cách dùng tự điển mà anh nói, và chỉ dùng b tự điển trên thì kết luận chiều chuộng là đúng chánh tả phải không anh?
- Vâng, đúng vậy anh.
- À tôi có một thắc mắc là có người gọi là tự điển, có người gọi là từ điển thì cái nào mới đúng hả anh?
- Khi soạn cuốn Hán Việt từ điển (1932), Đào Duy Anh, cho rằng tự điển chú trọng chính về "tự", tức chữ đơn, còn từ điển chú trọng về "từ", tức cả chữ đơn (một âm) lẫn chữ kép (hai âm). Do đó, các sách của Thiều Chửu và Khai trí Tiến Đức là tự điển, còn sách của ông, ghi chú rất nhiều về chữ kép bên cạnh chữ đơn, gọi là (Hán Việt) từ điển. Tuy nhiên, các nhà soạn sách sau đó, như Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, có đề cập rất nhiều về chữ kép, nhưng vẫn gọi sách của họ là tự điển. Đo đó, theo tôi ranh giới giữa tự điển và từ điển hiện nay mờ nhạt. Một tự điển đầy đủ thì sẽ ghi cả chữ kép, tức cũng là từ điển. Tiện đây cùng xin nói là người ta còn có "tự vị", nghĩa cũng như tự điển.
𝗧𝗶̀𝗺 đ𝗲̂́𝗻 𝗴𝗼̂́𝗰 𝗰𝗵𝘂̛̃
- Ngoài cách dùng tự điển, còn có cách nào khác không anh.
- Có anh ạ. Có cách của các nhà tự điển học. Khi soạn tự điển, thường phải cân nhắc nhiều điều, trong đó tìm hiểu gốc chữ. Khi quyết định chánh tả của chữ Nôm cũng như chữ Hán Việt - chữ Hán đọc theo giọng người Việt và dùng trong câu nói hay văn của người Việt - người ta thường tìm đến chính tả của những chữ lân cận.
- Cách này có khó không anh?
- Cách này không dễ dàng. Cần biết một số căn bản của tiếng Việt, về chữ Nôm lẫn chữ Hán và dĩ nhiên cần có cả tài liệu nữa.
- Anh có thể dùng cách này để quyết định Chiều Chuộng, phải viết với Ê là đúng chánh tả không anh?
- Vâng, toi xin trình bày đây anh. Ở đây tôi dựa vào truyện Kiều, bản Kinh 1870, do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm và khảo dị (xem [12]). Dựa vào những bản kiếu khác cũng đưa đến cùng kết luận.
Chiều, theo Việt Nam Tự điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (1970), có những nghĩa:
a) (danh từ) Khoảng thời gian từ quá trưa đến tối.
b) (danh từ) bề, phía, chiều dài, chiều rộng
c) (danh từ) vẻ, nét, dáng trông thấy bên ngoài
d) (động từ) dựa theo ý người khác, thí dụ chiều chuộng, cư xử theo ý muốn của người; và những chữ kép khác chiều luỵ, chiều lòn.
Tôi tạm thời để nghĩa b), c) sang một bên, chỉ nói về a) và d). Với nghĩa a) thì chắc mọi người đều đống ý phải viết với Ê nghĩa là buổi chiều, chiều rôi … là đúng chánh tả.
Tìm trong [12], nói về Chiều nghĩa a): buổi chiều, chiều tối …
(câu 114)
䏾 朝 㐌 我 𨤮 槐 群 賒
Bóng chiều đã ngả, dặm hoè còn xa.
Ta thấy, chữ Nôm Chiều mượn âm từ chữ Hán 朝, có nghĩa là sáng sớm mà cũng có nghĩa là một ngày. Cũng xin lưu ý là ngữ pháp )tức văn phạm) của câu nói chữ Việt khác với ngữ pháp của câu nói trong tchữ Hán. Trong câu văn chữ Hán thì đọc là Triêu mà trong câu văn chữ Nôm của người Việt đọc là Chiều.
Bây giờ ta thử xem Chiều theo nghĩa d), động từ, chiều chuộng, chiều ý người khác thì chữ Nôm viết thế nào? Có hai cách viết: một là dùng cả chữ 朝 không thay đổi, hai là ghép thêm bộ Tâm (trái tim, tấm lòng) thành 𢢅
(câu 1622)
𢢅昆買𠰺默油𠚢𢬣
Chiều con, mới dạy mặc dầu ra tay.
(Câu 2370)
𫯳鍾渚易埃朝朱埃
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai!
Như vậy nếu ta đồng ý là là buổi chiều, chiều tối viết với Ê thì theo cách cấu tạo chữ Nôm, chiều chuộng chiều ý cùng phải viết với Ê.
Sẵn đây, chiều theo nghĩa b) (danh từ) bề, phía, chiều dài, chiều rộng và c) danh từ) vẻ, nét, dáng trông thấy bên ngoài thì chữ Nôm cũng viết là 朝
(nghĩa b, câu 1822)
儈頭納𫴋𡑝枚𱥺朝
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
(nghĩa c, Câu 188)
固 朝 風 韻 固 朝 清 新
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân.
Tóm lại, nếu ta biết được chữ Nôm cấu tạo thế nào và có văn bản chữ Nôm thì ta có thể kết luận là với cả 4 nghĩa a), b) c) và d) (chiều chuộng) phải có cùng cách đọc và viết giống nhau theo Quốc ngữ là Chiều, đi với chữ Ê.
- Cám ơn anh giải thích tường tận. Tôi biết có người cho Chìu Chuộng là đúng vì họ cho Chìu chuộng xuất phát từ Chịu, dựa vào ý nghĩa, nên phải viết không có Ê.
- Đây là một kiểu phỏng đoán, dễ sai lạc lắm anh ạ, ngay cả những học giả họ cũng rất dè dặt. Ở đây, nghĩa Chiều/Chìu và Chịu không giống nhau. Chiều/Chìu ý là dựa theo, làm theo ý người khác một cách tự nguyện. trong khi đó, Chịu có nghĩa bị áp lực, bị bắt buộc. Vậy cách giải thích này tuỳ tiện và không thuyết phục chút nào anh ạ.
- Vâng, tôi cũng đồng ý với anh.
-
- Hẹn anh dịp khác.
-
Liêm
(07/2025)
Tham khảo
[1] Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Huình Tịnh Của, Sài Gòn, 1895
[2] Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội, 1931
[3] Việt Ngữ Chánh tả tự vị, Lê Ngọc Trụ, Sài Gòn, 1961
[4] Việt Anh tự diển, Nguyễn Văn Khôn, Sài Gòn, 1966
[5] Việt Nam tân tự điển, Thanh Nghị, Sài Gòn, 1967
[6] Việt Nam tự điển, Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, Sài Gòn, 1970
[7] Đại tự điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, 1999
[8] Tự điển tiếng Việt, Lê Khả kế & Nguyễn Kim Thản, 2005
[9] Tự điển tiếng Việt, Hoàng Long & Quang Hùng, 2012
[10] Tự điển tiếng Việt, Kỳ Duyên & Hồng Vân, 2014
[11] Tự điển tiếng Việt, Hoàng Phê, 2021
[12] Truyện Kiều, chữ Nôm, bản Kinh 1870, Nguyễn Quảng Tuân phiên âm và khảo dị
[13] Chữ viết của người Việt Nam, Mặc Lý, Da Màu, 11/11/2022

Sunday, January 12, 2025

CÀNG BIẾT NHIỀU, CÀNG NÓI ÍT…

1. Tranh cãi với kẻ ít hiểu biết chỉ chứng minh bạn cũng là người như họ.
2. Tự tin thì im lặng, bất an thì lớn tiếng.
3. Nước sâu thì chảy chậm, người khôn thì nói ít.
4. Nghe nhiều, biết nhiều, nói ít.
5. Càng nói nhiều, càng tự ràng buộc, hãy giới hạn bản thân bằng những lời nói.
6. Im lặng khi đúng, im lặng khi sai, im lặng để qua đi, im lặng để trưởng thành.
7. Cao giọng lớn tiếng không đồng nghĩa với việc bạn trên cơ kẻ khác. Điều đó chỉ chứng minh bạn vừa không có kiến thức, lại vừa bất lịch sự mà thôi.
8. Lời thị phi chỉ là chuyện trong thiên hạ, vĩnh viễn không phải là thước đo đánh giá một con người.
9. Đời người ngắn lắm, sống cho mình còn chưa đủ, thời gian đâu đi làm hài lòng người khác.
(Sưu tầm)

Monday, December 30, 2024

Nguyễn Chương-Mt · CHỮ = TỰ (字) = WORD / "CHỮ" KHÔNG PHẢI LÀ "TỪ" (詞)

1/ "CHỮ", rất thuần Việt, sao không dùng mà cứ gọi là "từ"? Chẳng hạn, "bài diễn văn này có 500 CHỮ (words)", không dùng như rứa mà cứ gọi là "500 từ"; rồi "những từ này", ủa, sao không viết là "những CHỮ này"?... Nhiều lắm, vô số kể, nhiều người trong chúng ta giờ đây cũng bị nhiễm viết/gọi là "từ" thay vì "chữ"!
Quí bạn có bao giờ thắc mắc, lấy làm lạ, rằng: tiếng thuần Việt gọi là "CHỮ", hay quá sức, mà vì sao bị trục xuất dần dần từ sau năm 1975, đến nay gần như biến mất tiêu, bị bức tử?
2/ Mà dù có dùng âm Hán-Việt đi nữa thì cũng phải dùng cho đúng. "Từ" đâu hoàn toàn đồng nghĩa với "CHỮ" mà ham!
"CHỮ", nếu dùng âm Hán-Việt, là "tự" (字) - chẳng hạn, "Hán tự" (漢字) nghĩa là "chữ Hán", đâu ai ấm ớ đi gọi là ... "Hán từ"!
Còn "từ" (詞), nghĩa là gì? "Từ" nghĩa là lời nói, như "ngôn từ" (言詞); "từ" nghĩa là một đoạn văn, một bài viết, như "ca từ" (歌詞) là lời bài ca, như "diễn từ" (演詞) là cả một bài diễn văn...
Tức là, khi bạn viết như ri "bài diễn văn này có 500 từ", là ... SAI!; bởi vì cả một bài diễn văn đó gộp thành "TỪ", và trong bài diễn từ này có "500 TỰ" (nếu vẫn ưng dùng âm Hán-Việt), hay "500 CHỮ".
3/ Sao lại xảy ra tình trạng lẫn lộn, "râu ông đem cắm cằm bà" như rứa?
"Từ" còn mang tính chất của một đơn vị ngôn ngữ, chẳng hạn "danh từ" (名詞), "động từ" (動詞)...
Ví dụ: "đình" (庭) là danh từ, ở đây danh từ chỉ có 1 chữ (tự). Thấy gì? Danh từ "đình" có 1 chữ, thành thử khối người ba chớp ba nháng giải thích - đó, "từ" tức là "chữ".
Xem tiếp. "Gia đình" (家庭) là danh từ, ở đây danh từ gồm có 2 chữ (tự), ở đây "từ" nhiều hơn "chữ" rồi đa!
Tóm lại:
a) CHỮ là "tự" (字)
b) "Từ" (詞) là tập hợp của nhiều "tự", tức tập hợp nhiều CHỮ (ít nhứt là 1, và trở lên).
CHỮ, như vậy, không đồng nhứt với "từ".
c) Tốt nhứt, hay nhứt, là hãy cùng nhau trở lại với cách dùng thuần Việt, gọi là "CHỮ"!
Chẳng hạn, "đoạn văn kia có 300 CHỮ", "tôi xin viết ra đây mấy CHỮ...", "nhóm CHỮ sau đây..." (đừng viết "cụm từ", "nhóm từ", bởi vì xin nhắc lại, "từ" là đã bao hàm số nhiều rồi, là cả "nhóm", "cụm" rồi).
Các thế hệ ngày trước, khi có chữ Quốc ngữ, phân định rạch ròi: "chữ cái" (letter), "CHỮ" (word). "Chữ", "chữ cái" đều là quốc âm (Nam âm) của tiếng Việt!
"Chữ cái" (a,b,c...) là chữ cái (letter) Latin, nơi tiếng Anh, Pháp, Đức, rồi Việt Nam đều giống nhau, NHƯNG - xin chú ý - khi gọi là CHỮ (word) thì KHÁC nhau! Chữ Quốc ngữ (chữ của tiếng Việt): "người mẹ", Chữ Anh (chữ của tiếng Anh): "mother", Chữ Pháp: "mère", Chữ Đức: "Mutter".
------------------------------------------------------------

https://www.facebook.com/nguyenchuong158/

Wednesday, March 29, 2023

ĐỖ DUY NGỌC - NÓI CHUYỆN CHÍNH TẢ

Đỗ Duy Ngọc 
24 tháng 11 năm 2020

Không biết vì sao mà bây giờ người viết sai chính tả nhiều quá. Có thể là ngày nay, mạng xã hội, facebook phổ biến nên người ta viết nhiều, sử dụng nhiều nên mới lộ ra việc viết sai chính tả chăng? Cũng có thể nhà trường hiện nay không chú trọng việc dạy viết đúng chính tả cho học sinh? Cũng có thể bây giờ người ta ít đọc sách, bởi đọc sách cũng là một cách rèn luyện viết chính tả cho đúng? Mà cũng có thể thời hiện đại người ta phát âm sao thì viết ra vậy nên chữ nghĩa ngọng nghịu là lẽ đương nhiên? Và cũng có thể vì tất cả những lý do ấy.
Chỉ cần lướt các bài viết và comment ở trên mạng, ta có thể tìm thấy vô vàn lỗi chính tả. Lỗi nhẹ thường thấy là sai hỏi ngã. Lỗi này thì quá phổ biến, đến độ người ta có thể bỏ qua. Cũng thường thấy là viết như người ngọng nói. Ngày trước, người Việt thường lấy giọng Hà Nội làm chuẩn, giọng Bắc là giọng chuẩn, điều ấy chưa hẳn đã đúng nhưng cũng tạm chấp nhận. Nhưng bây giờ thì khác rồi, người Bắc nói chớt, nói ngọng nhiều quá và đem cái chớt, cái ngọng ấy vào bài viết, nói sao viết vậy. Trân trọng viết là chân chọng. Trả treo viết là chả cheo. Cho nên viết là cho lên. Lịch sử viết là lịch xử ... nhiều lắm kể không hết. Cứ tưởng người ít học thì viết sai nhiều lỗi chính tả, nhưng không phải thế. Học sinh cấp 3, sinh viên Đại học cho đến giáo viên, Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng viết sai chính tả tùm lum. Lãnh đạo cũng mắc không ít lỗi chính tả khi viết. Ngay đến giáo viên dạy môn Văn trong các trường học cũng viết sai chính tả. Nhà văn, nhà thơ, nhà báo cũng đầy lỗi chính tả. Ngày xưa, sách, báo là nơi để người ta tìm thấy sự chính xác trong câu văn, trong từ ngữ sử dụng và cũng là nơi tin cậy về chính tả. Ngày nay không còn thế nữa, sách đầy lỗi, báo viết sai tè le, ngay cả sách giáo khoa dạy cho trẻ con cũng viết con dơi thành con rơi. Đành thua. Một bài văn hay, một bài báo tốt, một câu comment thú vị mà nhiều lỗi chính tả thì bài văn ấy, câu comment ấy giảm biết bao giá trị. Nhiều khi cứ tự nghĩ không biết giờ trong nhà trường ở môn Tiếng Việt, môn Văn học, người ta dạy học trò những gì nhỉ? Còn nhớ cách đây hơn 60 năm, thời tôi còn là cậu bé con đi học tiểu học môn dictée tức chính tả là môn học quan trọng, thầy cô rất chú trọng môn này và giần cho nát xương đứa nào viết sai nhiều lỗi cho nên trò nào cũng cố gắng Une dictée sans fautes, một bài chính tả không có lỗi. Có lẽ nhờ thế mà thế hệ chúng tôi viết bài ít lỗi hơn bây giờ chăng? Tuy vậy, giờ có tuổi, lẩn thẩn rồi, trong khi viết mà gặp một từ nào hơi hồ nghi, tôi liền tra tự điển hoặc vào google đánh chữ đấy tìm xem để có sự chính xác. Tôi nghĩ viết cho đúng chính tả cũng không khó. Nếu để ý trong lúc viết, kiên trì rèn luyện thì việc viết sai chính tả sẽ vượt qua được thôi.
Cứ đà này, chữ Việt thành một mớ hỗn độn của người bệnh ngọng. Đôi lúc cứ đọc thấy lỗi, lòng lại buồn và lo cho tiếng Việt.

Saturday, January 28, 2023

Tư tưởng "Chi bằng học" của Phan Châu Trinh

Tác giả:  HUỲNH VĂN HOA
13:21, 20/03/2016 (GMT+7)

Cuộc đời hoạt động cách mạng và hiến dâng tất cả cho quê hương đất nước của Phan Châu Trinh (1872-1926) không dài, song, ông để lại một di sản thật đồ sộ, nhất là về tư tưởng cách mạng và tiến bộ, dẫu sau cả trăm năm nay.

Có thể nói, ngay từ đầu thế kỷ XX, sau khi đỗ Phó bảng cùng khoa với Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Huy, Phan Châu Trinh bắt đầu tiếp xúc với tân thư, xác định đường hướng duy tân, liên kết với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, lập thành cỗ xe tam mã, kéo Việt Nam đi vào vận hội mới - vận hội về khai sáng dân trí, một tiền đề quan trọng để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, tạo nền tảng cho phát huy sức mạnh dân tộc.

Ngay trong những ngày cư tang anh cả Phan Văn Cừ và sau đó, qua Đào Nguyên Phổ, Thân Trọng Huề, Phan Châu Trinh đọc nhiều sách mới và các tác phẩm của Nguyên Lộ Trạch, tiếp xúc với tư tưởng của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu về vấn đề tự do, dân quyền ở Tây Âu. Một tác giả nổi tiếng, ngoài Khang-Lương, là Nghiêm Phục (1853-1921), người dịch Thiên diễn luận (Evolution and Ethics) của Thomas Henry Huxley) ra Trung văn, được các nhà duy tân Trung Quốc đánh giá cao.

Năm 1903, Phan Châu Trinh ra Huế, làm Thừa biện Bộ Lễ. Cùng năm này, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp cũng ra Huế, đọc tân thư. Cuối năm 1904 (32 tuổi), Phan Châu Trinh từ quan về Quảng Nam, chuyển hướng đưa vận động duy tân về quê nhà, nhanh chóng lập hội buôn, hội học, hội diễn thuyết, nhất là phát triển nhiều trường dân lập.

Năm 1906, Phan Châu Trinh ra Bắc, đi Nhật, về lại Hà Nội, tiếp xúc với các nho sĩ tiến bộ, bàn bạc việc thành lập Đông Kinh nghĩa thục. Năm 1907, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động duy tân tại Quảng Nam, chú trọng về phát triển giáo dục.

Giữa năm này, Phan Châu Trinh ra lại Hà Nội, thay Đào Nguyên Phổ làm Tổng biên tập báo "L' An-Nam - Đại Việt tân báo", viết Hiện trạng vấn đề, giảng dạy Đông Kinh nghĩa thục, diễn thuyết và vận động duy tân ở nhiều tỉnh miền Bắc và sáng tác Tỉnh quốc hồn ca I. Cũng trong năm 1907, Phan Châu Trinh có nhiều hoạt động nổi bật, giao thiệp với nhiều nhân vật nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, cả Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải (Xem Biên niên tiểu sử Phan Châu Trinh, NXB Giáo dục, 2006).

Chi bằng học, luận điểm tiến bộ, khoa học

Luận điểm này nằm trong bài Hiện trạng vấn đề, đăng trên Đại Việt tân báo (tức tờ Đăng cổ tùng báo mới cải tên), năm 1907. Bài này, đã được Tân Nam Tử, tức Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Pháp và cho đăng trên tờ Pionnier Indochinois ở chuyên mục Tư tưởng người An Nam. Người đầu tiên nhận ra quan điểm tiến bộ này là Huỳnh Thúc Kháng, đồng môn, đồng chí của Phan Châu Trinh. Trên Tiếng Dân, số 613, ngày 9-8-1933, Huỳnh Thúc Kháng thuật lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, năm 1905, khi mà Nhật thắng Nga, làm chuyển biến mãnh liệt cán cân quyền lực ở Đông Á, đem đến cho Nhật Bản một vị thế mới trên sân khấu thế giới, do vậy, dẫn đến tư tưởng sùng bái người Nhật, hơn nữa có xu hướng bạo động và trông cậy người ngoài trong giới thân sĩ nước ta. Huỳnh Thúc Kháng đánh giá bài Hiện trạng vấn đề là: "Một bài luận thời cuộc rất xuất sắc trong báo giới ta trước 25 năm nay".

Trong bài báo đó, Phan Châu Trinh kết luận:

"Vậy xin có lời chính cáo người nước ta rằng: "Không bạo động, bạo động thì tất chết. Không trông cậy người ngoài, trông cậy người ngoài thì tất ngu".

"Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý tặng cho đồng bào là "Chi bằng học"". (Xem Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập, Chương Thâu-Phạm Ngô Minh, sưu tầm và biên soạn, NXB Đà Nẵng, 2010, trang 388, 389, 390).

Hiện nay, bài Hiện trạng vấn đề đã được Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) dịch toàn văn (Xem Phan Châu Trinh-Toàn tập, tập 2, NXB Đà Nẵng, 2005, từ trang 70 đến 75).

Cần lưu ý là, khi kết thúc bài viết, Phan Châu Trinh có lời khuyên với đồng bào rằng, chỉ nên trông cậy ở chính mình, không vọng ngoại. Vọng ngoại ắt là chết và nêu con đường giải thoát của chúng ta là nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ. Như vậy, vấn đề quan trọng là tự lực cánh sinh và học hành.

Nguồn gốc tư tưởng Chi bằng học của Phan Châu Trinh

Không phải ngẫu nhiên mà Phan Châu Trinh có tư tưởng Bất như học - Chi bằng học. Phan Châu Trinh viết Hiện trạng vấn đề vào năm 1907 khi Nhật Bản đã thể hiện rõ vai trò của một cường quốc ở châu Á. Năm 1906, sau khi ở Nhật một thời gian, quan sát những chuyển biến thần kỳ trên nhiều mặt của xã hội Nhật Bản, nhất là tư tưởng thực học, học hành theo phương pháp khoa học hiện đại, Phan Châu Trinh nhận ra một yêu cầu cấp bách-yêu cầu phải học, thực học, rời bỏ ràng buộc của Nho giáo.

Nhật Bản mạnh lên từ học và thực học. Tư tưởng thực học gắn liền với tên tuổi Kaibara Ekken (1630 - 1714). Có thể xem, ông là một trong những nhà giáo dục vĩ đại nhất của lịch sử cận đại Nhật Bản. Nhà bác học người Đức Philip Franz von Siebold (1796 - 1866) khi viếng thăm Nhật Bản vào thế kỷ 19, tìm hiểu và vô cùng khâm phục Ekken, gọi ông là "Aristote của Nhật Bản".

Ekken nhấn mạnh đến việc học, giá trị của việc học, coi sự học là nguồn gốc của ích nước lợi nhà, khuyến khích đọc sách. Ekken viết: "Không có thú vui nào trên thế giới có thể so sánh được với thú vui đọc sách. Khi người ta cảm nhận được sự đàm thoại riêng tư với thế giới người hiền, thì đó là thú vui duy nhất không lệ thuộc vào người khác".

Thời kỳ Minh Trị Duy Tân, những sách như Bàn về tự do (On Librerty) của John Stuart Mill, Thuyết tiến hóa của Charles Darwin, Tự lo (Self-Help) của Samuel Smiles... ra đời, in với số lượng lớn, có lúc đến triệu bản, thu hút mãnh liệt giới trẻ về vấn đề đổi mới nước Nhật. Công ty ra đời đầu tiên thời Minh Trị là một công ty nhập khẩu và kinh doanh sách, có tên Maruzen, chủ nhân Hayashi Yuteki. Sách là mặt hàng đi đầu trong hành trình chấn hưng dân trí.

Trang đầu của cuốn Tự lo, dẫn câu nói của J.S. Mill: "Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành". Muốn cho đất nước giàu mạnh, độc lập, phú cường, phải có những cá nhân mạnh, thông qua rèn luyện, tư lo, sáng tạo, độc lập.

Những quyển sách này đã cuốn hút giới trí thức và giới trẻ vươn lên trong học tập, rèn luyện và làm giàu. Tác phẩm Khuyến học của nhà khai minh Fukuzama Yukichi (1835-1901) nhấn mạnh: "Con người không sinh ra cao quý hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó. Chính những ai lao động siêng năng ở những công việc tìm tòi của họ, và học nhiều, sẽ trở thành cao quý và giàu có, trong khi những ai biếng nhác sẽ trở thành nghèo khó, thấp hèn".

Toàn nước Nhật cổ vũ cho việc học. Toàn nước Nhật ham mê đọc sách. Phan Châu Trinh đã thấy một nước Nhật như thế và cũng từ đấy thao thức cho tương lai của nước Việt. Đây là cơ sở cho cái nhìn về Nhật Bản của Phan Châu Trinh khác với cái nhìn của Phan Bội Châu. Lịch sử đã chứng minh cách nhìn của Phan Châu Trinh là đúng. Đó là chỉ nên trông cậy ở chính mình và không vọng ngoại.

Những nội dung về việc học của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh phản đối việc học, việc thi cử lối cũ, như trong bài Chí thành thông thánh, đã nêu:

Vạn dân nô lệ cường quyền hạ
Bát cổ văn chương túy mộng trung...

(Muôn dân nô lệ phường quyền mạnh
Tám vế văn chương giấc ngủ mơ).  

(Lê Ấm dịch, Thơ văn Phan Châu Trinh, NXB Văn học, HN, 1983, trang 88)

Tuy nhiên, Phan không cho Khổng Giáo là hàng rào cản trở, vẫn tin vào sức mạnh của thời đại, của sự nghiệp duy tân. Khi từ quan về Quảng Nam, họp thành bộ ba Phan-Huỳnh-Trần, các ông đã đi mọi nơi, kể cả những nơi xa xôi, hiểm trở như Đèo Le, Tý, Sé. Năm 1905, 1906 là những năm phát triển sâu rộng công cuộc duy tân, trong đó lấy sự học là gốc:

Một người học, muôn người đều biết
Trí đã khôn, trăm việc phải hay
Lợi quyền đã nắm trong tay
Có ngày tấn hóa, có ngày văn minh

(Chiêu hồn nước)

Trong mấy năm thực thi phong trào Duy tân tại quê nhà, hơn 40 trường dạy quốc ngữ, toán, cách trí, địa lý, võ ta... ra đời, làm nức lòng dân chúng. Công đầu phải kể đến Phan Châu Trinh. Khai dân trí, con đường đó, chỉ có một hướng: Bất như học - Chi bằng học.

Với Phan, học là để nâng cao hiểu biết cho nhân dân, chống lối từ chương, nặng về khoa cử, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học-kỹ thuật, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, tuyên chiến với chế độ quân chủ, cải cách phong tục tập quán, bài trừ mê tín dị đoan, nâng cao dân quyền, phát triển sản xuất, phát huy nội lực, tin ở sức mình,...

Hơn một trăm năm trôi qua, nhìn lại tư tưởng cách mạng của Phan về việc học, về vai trò của giáo dục, ta càng thấm thía hơn "vật rất quý tặng cho đồng bào" mà ông gửi trao, đó là: Chi bằng học. Vì thế, rất đồng tình với đánh giá của Nguyên Ngọc: "Ngày nay nhìn lại, ta thấy phong trào Duy tân hồi đầu thế kỷ với Quảng Nam là điểm xuất phát và trung tâm đã để lại cho chúng ta một bài học hết sức sâu sắc về dân trí. Phan Châu Trinh được coi là bộ óc minh mẫn nhất của đất nước đầu thế kỷ XX, có thể nói, ông đã chủ trương và thực hiện một cuộc cách mạng bằng giáo dục" (Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Giáo dục và dân trí, Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Châu Trinh-1872-2002, trang 112).

"Chi bằng học (chữ Hán là Bất như học) là quan niệm cơ bản của tư tưởng Phan Châu Trinh, là lời gọi thống thiết của Phan Châu Trinh gửi đồng bào Việt Nam. Không phải chỉ có giá trị đương thời, mà còn đến hôm nay vẫn xứng đáng là một danh ngôn, luôn luôn phát huy tác dụng".

(Vũ Ngọc Khánh, Phan Châu Trinh toàn tập, tập 2, trang 77)

HUỲNH VĂN HOA
 



Sunday, May 31, 2020

Liên Khúc Nỗi Buồn Hoa Phượng & Lưu Bút Ngày Xanh (Thanh Sơn)


Hoàng Oanh, Hương Lan, Như Quỳnh 
LK Nỗi Buồn Hoa Phượng & Lưu Bút Ngày Xanh (Thanh Sơn)
Paris By Night 83 - Những Khúc Hát Ân Tình


Nỗi Buồn Hoa Phượng 
Tác giả: Thanh Sơn

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương
Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi
phút gần gũi nhau mất rồi tạ từ là hết người ơi!

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng.
Biết ai còn nhớ đến ân tình không?
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu?
Những chiều hẹn nhau lúc đầu
giờ như nước trôi qua cầu.

Giã biệt bạn lòng ơi!
Thôi nay xa cách rồi kỷ niệm mình xin nhớ mãi.
Buồn riêng một mình ai chờ mong từng đêm gối chiếc.
Mối u hoài này ai có hay?

Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn.
Cảm thông được nỗi vắng xa người thương.
Màu hoa phượng thắm như máu con tim,
mỗi lần hè thêm kỷ niệm.
Người xưa biết đâu mà tìm?

Lưu Bút Ngày Xanh
Tác giả: Thanh Sơn
      
Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi
Nhắc lại câu chuyện buồn
Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu
Nơi kỷ niệm êm ái
Đâu dư âm của tiếng nói ngây thơ
Ngày hai đứa dìu nhau đến sân trường
Cùng đuổi bướm hái hoa trên cuối đường
Tiếng cười vạn tình thương

Và thuở ấy biết bao nhiêu buồn vui
Gói trọn theo tuổi đời
Tình đẹp như trang giấy kết vần thơ
Như một nụ hoa trắng
Nhưng bao nhiêu yêu dấu đã phai mờ
Thời gian nỡ vùi chôn tuổi học trò
Người em gái mến thương nơi chốn nào
Bao giờ mình gặp nhau

Có những lần hoàng hôn rớt trên vai
Bước chân đi lòng nuối tiếc ai hoài
Nhặt hoa rơi mà không nói nên câu
Nhớ nhau vì đâu
Biết nói gì tình ta trót chia phôi
Khép tâm tư dành riêng mến một người
Ngày xanh ơi! Ngày xanh chết trong tim
Biết đâu mà tìm

Người ơi nhắc đến chi kỷ niệm xưa khiến lòng tôi buồn buồn
Ngày biệt ly hai đứa đứng nhìn nhau
Em cài cành hoa tím
Hoa xưa đây nhưng bóng dáng em đâu
Lòng nhật ký đã ghi nốt tâm tình
Và đôi lúc nhớ nhau lưu bút còn
Để lại chuyện buồn vui...


Saturday, February 8, 2020

Năm nguyên tắc tránh khẩu nghiệp:

1. Chuyện không rõ, đừng nên nói.
2. Chuyện không có, đừng đơm đặt.
3. Chuyện không chắc, đừng nói linh tinh.
4. Chuyện tổn thương, đừng bàn tán.
5. Chuyện người khác, đừng đoán lung tung.​
(Sưu tầm từ internet)

Monday, January 20, 2020

ĐẠO LÝ 100 - 1 = 0

Vị hòa thượng già viết lên giấy 4 phép tính:
2+2=44+4=88+8=169+9=19
Ngay lập tức, các đệ tử nhao nhao lên:
"Thầy ơi, thầy tính sai một phép tính rồi."

Vị hòa thượng già ngẩng đầu lên, chậm rãi nói: "Đúng thế, mọi người đều nhìn thấy rất rõ, phép tính này ta đã tính sai rồi. Nhưng 3 phép tính trước tính đúng, tại sao không có một ai khen ta mà chỉ nhìn thấy và lập tức chỉ ra phép tính sai của ta?"

ĐẠO LÝ 100 - 1 = 0

Làm người cũng vậy, khi bạn đối xử tử tế với người khác 10 lần, họ có thể cũng chẳng nhớ, nhưng chỉ 1 lần bạn làm họ phật ý, họ sẽ nhớ rất lâu và có thể phủ nhận hoàn toàn những điều tốt đẹp mà bạn dành cho họ. Đó chính là đạo lý 100 – 1 = 0.

Người xưa có câu: Cho một bát gạo thành ân nhân, cho một bao gạo thành kẻ thù. Có những người đã quen với việc được cho mà dễ dàng quên ơn huệ. Không phải ai ai cũng hiểu được hai chữ "lương tâm"!

Cho dù bạn sở hữu cả chục cái tốt cái hay nhưng chỉ cần có một cái không tốt, nó sẽ là cái cớ để xóa sạch sẽ mọi cố gắng nỗ lực của bạn. Cho dù bạn dốc hết tâm huyết ra vì người khác, nhưng chỉ một việc không đúng, bạn sẽ trở thành tội đồ trong mắt họ.

Trong cuộc sống này có một số người, bạn giúp họ cả trăm lần họ không có được một lời cảm ơn. Nhưng chỉ một lần không giúp, họ quay ra hận bạn. Bao nhiêu cố gắng nỗ lực bỏ ra vì người khác, thứ bạn nhận lại được không phải là sự chân thành mà chỉ là nỗi cay đắng.

Vì thế cần nhớ:
1. Làm người, rộng rãi cũng được nhưng cần rộng rãi với đúng người – những người biết tri ân báo đáp, nếu không, tấm lòng của bạn sẽ trở nên lãng phí.

2. Làm người, lương thiện cũng được, nhưng cần lương thiện với những người thấu tình đạt lý, nếu không bạn sẽ phí hoài tấm thịnh tình.

3. Làm người, bao dung cũng được, nhưng cần bao dung với người có tâm có đức, nếu không sự nhẫn nhịn chịu đựng sẽ trở nên vô nghĩa.

Nếu không, khi chúng ta vô tư bỏ công sức ra giúp đỡ người khác, chúng ta sẽ chỉ nhận lại tổn thương, thậm chí là tai họa.

4. Làm người, ngốc nghếch không phải là tật xấu, không giả dối là được; không thông minh cũng chẳng sao, không xấu xa là được; giàu hay nghèo không thành vấn đề, miễn sao biết cách cho đi là được.

Đời người cũng như một cuộc làm ăn vậy, bỏ ra công sức nhưng chưa chắc đã thu lại được kết quả tốt đẹp như mong muốn.

5. Làm người, quá lương thiện sẽ bị người khác bắt nạt, đối xử quá tốt với người khác rồi sẽ có ngày họ cho rằng đó là điều nghiễm nhiên; quá ngô nghê sẽ bị người khác cho là ngu ngốc, quá rộng rãi sẽ bị người khác lợi dụng.

Xưa nay, đã có quá nhiều câu chuyện thực tế đã chứng minh cho điều này. Trên đời, vẫn luôn tồn tại những kẻ không có lòng biết ơn, vong ân bội nghĩa.

Thế nên, trong các mối quan hệ giữa người với người, chúng ta cần tỉnh táo để nhận diện đối phương.
Kết bạn với một người quân tử sẽ có lợi cả đời, ngược lại, giao du với kẻ tiểu nhân, chúng ta sẽ bị kéo xuống hố sâu.

Và một khi đã là bạn, hãy đối xử tử tế, tôn trọng lẫn nhau, chỉ đơn giản vậy thôi cũng đã có thể xây dựng nên một tấm chân tình bền vững!

(Sưu tầm từ internet)