Tác giả: Tài Ngô
Năm 1972 tôi học lớp nhất. Gọi lớp nhất là do quen miệng, kỳ thực trên nhãn vở chúng tôi viết là lớp năm, năm A (trường tôi có hai lớp năm). Tháng ba, thầy Duy dạy lớp tôi bảo cả lớp phải đi chụp mấy tấm hình chân dung 2x3 để dán thẻ học sinh, chuẩn bị thi vào đệ thất. Chúng tôi thích gọi thi đệ thất hơn là thi vào lớp sáu vì lúc ấy đang là giao thời giữa hai tên gọi, một phần chưa quen miệng nhưng kỳ thực cái tên đệ thất nghe sang cả, trang trọng hơn là cái tên lớp sáu dân dã, bọt bèo.
Trường tôi học ngày hai buổi, nghỉ nguyên ngày thứ năm và chiều thứ bảy. Thứ năm nghỉ học, tôi với thằng Tiếp, thằng Nhơn cùng xóm rủ nhau đi chụp hình. Tiệm chụp hình nằm trên đường Khải Định, gần chợ Thanh Bình. Lần đầu chụp hình, ông thợ phải chỉ vẽ đủ các kiểu, nào tóc phải rẽ ngôi 3/7, mắt phải nhìn thẳng vào đèn, miệng cười nhưng không được hé môi. Tội nghiệp thằng Tiếp, miệng nó hơi hô nên ngậm được miệng thì mắt lại nhắm tịt mà mắt nhìn vào hướng đèn rọi thì hai cái môi không chịu hợp tác về chung...một nhà. Tôi với thằng Nhơn bụm miệng cười nó càng mắc cỡ. Ông phó nhòm càm ràm một hồi rồi khoát tay ra hiệu hai thằng tôi ra ngoài để ông làm việc. Trên đường về, thằng Tiếp mua ba cây kem đậu xanh loại hảo hạng để trám miệng tôi với thằng Nhơn không bép xép chuyện chụp hình cho mấy đứa nhiều chuyện trong lớp.
Đà Nẵng lúc ấy chia làm 3 quận. Mỗi quận có một trường công để học trò thi vào lớp đệ thất. Quận 1 có trường Phan Châu Trinh dành cho học sinh nam, trường Nữ Trung Học dành cho học sinh nữ (niên khoá 1973-1974 mang tên Nữ Trung Học Hồng Đức), quận II có trường Ngoại Ô (sau này đổi tên thành Thái Phiên), quận III có trường Đông Giang. Học trường công chỉ đóng tiền niên liễm một lần trong năm học, rất rẻ so với gánh nặng học phí mỗi tháng của các trường tư nên học trò cố gắng thi cho đậu. Lớp tôi con trai thi vào Phan Châu Trinh, con gái thi vào trường Nữ trung học, ngoại trừ thằng Tiếp. Anh thằng Tiếp dạy ở Đại Lộc nên nó dự thi vào trường đó để chắc chắn suất đậu. Nói như vậy để biết đậu vào trường công, nhất là hai trường ở quận I vinh dự như thế nào.
Ngày trường Phan Châu Trinh nhận đơn, bọn con trai hai lớp nhất trường tôi mang theo thẻ học sinh rồng rắn kéo nhau đi nộp đơn. Không có bóng dáng phụ huynh nào trong khu vực nhận đơn, ở khu thư viện, thính đường (giống như hội trường), mà chỉ toàn những thằng học trò sàn sàn tuổi tôi. Trường cấp cho mỗi đứa một số báo danh. Lớp tôi hầu hết thi ở trường Bồ Đề (nay là Nguyễn Huệ) nằm trên đường Quang Trung. Lấy được số báo danh bọn tôi đứa nào cũng ướt nhẹp mồ hôi, quần áo xộc xệch vì chen lấn. Mệt nhưng mà vui, lòng rộn ràng lâng lâng vì lần đầu ra khỏi cổng trường thân thuộc, chúng tôi đã tự bước đi trên đôi chân non nớt của chính mình.
Sang tháng tư, chiến sự ác liệt ở Quảng Trị. Lác đác trên đường phố Đà Nẵng đã thấy dân tản cư bồng bế, gồng gánh. Tháng năm khi đoạn đường xuôi Nam từ thị xã Quảng Trị qua Hải Lăng tới huyện Phong Điền có tên gọi mới là "Đại lộ kinh hoàng" thì không khí chiến tranh đã len vào thành phố, nhiều trường học ở Đà Nẵng đóng cửa để tiếp nhận đồng bào chạy loạn vào lưu trú. Trường tôi không tổ chức lễ bế giảng, tôi tiếc hùi hụi vì mất đi việc nhận phần thưởng danh giá của lớp cuối cấp. Buồn hơn cả là lớp tôi không tổ chức được buổi liên hoan họp mặt chia tay, tôi không nghe được thằng Công, nhỏ Thuỷ, hai cây văn nghệ của lớp song ca bài "Hè về" lần cuối.
Chiến sự coi mòi lắng dịu mặc dầu hoả châu vẫn hằng đêm giăng mắc trên trời cũng là lúc bọn tôi lục tục ôn bài để chuẩn bị kỳ thi. Hai ngày cuối tôi không ôn bài nữa mà đọc truyện. Truyện cho tuổi học trò ngoài tủ sách Tuổi Hoa còn có tủ sách Mây Hồng, Trăm Hoa (hai tủ sách sau không hay bằng Tuổi Hoa). Truyện của tủ sách Trăm Hoa khi hết truyện chính người ta thường in thêm những kiến thức phổ thông để hấp dẫn người đọc. Thường mấy đứa mê truyện hay bỏ qua phần kiến thức khi đọc hết mạch truyện chính. Tôi thì đọc tuốt luốt vì biết nhiều thì không bổ sấp cũng...bổ ngửa. Tôi trúng tủ một câu hỏi địa lý khi đọc một cuốn truyện trong tủ sách Trăm Hoa (mà tôi đã quên tên), câu hỏi mà tôi nghĩ rất ít đứa trả lời được.
Buổi sáng thi đầu tiên, người cậu thứ sáu ở cùng nhà chở tôi và bà chị trên tôi đến trường Bồ Đề trên chiếc honda dame. Chị tôi học trên tôi hai lớp, đã đậu vào trường Nữ Trung Học cách đây hai năm. Bà chị đi theo nhằm động viên, khích lệ tinh thần đồng thời chia sẻ kinh nghiệm thi cử. Tới gần cổng trường tôi thấy một toán cảnh sát đứng rải quanh trường, bên cạnh là những cuộn thép gai bung xung chặn đường, không cho phụ huynh đi vào khu vực trường thi. Lần đầu thấy cảnh sát đứng gác, tôi sợ xám hồn, mặt xanh chành như đít nhái. Lo lắng vơi bớt khi tôi bước vào phòng thi ở đầu hồi lầu một, ngó thẳng ra mặt đường Quang Trung. Một bàn chỉ ngồi đúng hai đứa học trò, số báo danh ghi bằng phấn trắng lạnh lùng trên mặt bàn trông thật vô hồn. Mặt đứa học trò nào cũng căng như dây đàn, hồi hộp xen lẫn âu lo không biết đề thi có vừa với sức học của mình không.
Môn văn thi đầu tiên, thời gian làm bài là ba giờ. Đề văn ra như sau: Trong giờ giải lao, một số học sinh lớp em phạm lỗi. Thầy hiệu trưởng vào lớp nhắc nhở. Em hãy tường thuật lại. Tôi bị "khớp" vì xưa giờ không nghe được từ giải lao bao giờ (sau này về hỏi mãi mới biết giải lao là giờ ra chơi). Tôi loay hoay mãi cây viết pilot trên tay, mồ hôi tay túa ra dầm dề. Bỏ qua nghĩa của từ giải lao, tôi nghĩ phải viết cái lỗi gì đã xảy ra. Đây là bài văn tường thuật, cái chính là thuật lại cảnh thầy hiệu trưởng vào lớp. Tôi nhớ lại một lần thầy hiệu trưởng nhắc nhở dưới cờ việc học trò khắc tên kỷ niệm vào những thân cây dương liễu trồng quanh sân trường. Tôi viết vào giấy nháp liền một mạch, nhập đề, rồi thân bài cái cảnh thầy vừa nghiêm khắc nhắc nhở vừa trìu mến khuyên bảo học trò hãy giang tay bảo vệ sự sống của cây xanh. Viết được vài dòng nhập đề vào giấy thi thì tôi nghe tiếng đạn giấy bay chiu chíu qua mang tai. Thì ra bên ngoài phòng thi phụ huynh đang quăng giấy nháp bài vào cho thí sinh bằng cách dùng dây thun bắn vào. Không biết đề thi lọt ra ngoài bằng cách nào trong khi cảnh sát đứng quanh trường. Hai giám thị vội vàng đóng hai cánh cửa lớp hướng ra đường, chúng tôi lại cắm cúi làm bài dù bên ngoài tiếng loa nhắc bài vẫn không ngừng nghỉ.
Buổi trưa ông cậu đến đón hai chị em tôi. Cậu hỏi làm bài được không tôi cười dạ được. Chị tôi nói có ông phụ huynh làm bài văn hai đứa giành giật ca uống nước rồi oánh lộn nhau. Tôi nói ăn thua là tường thuật, còn cái lỗi gì thì đâu có quan trọng. Ông cậu cười tươi, dẫn hai chị em tôi đi ăn cà ri gà ở quán nằm trên đường Cô Giang gần đó. Đó là lần đầu tiên tôi được ăn quán, mà lại là quán ngon nữa chứ. Lớn lên nhớ đến ông cậu là tôi nhớ đến món cà ri năm nào, đúng là miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời.
Buổi chiều thi câu hỏi thường thức, phòng thi của tôi dời qua lầu đối diện. Khoa học thường thức gồm các các câu hỏi trong các môn học: Đức dục, quốc sử, địa lý, khoa học, vệ sinh. Môn này chịu khó học bài đồng thời phải nhớ kỹ vì nhiều bài dây mơ rễ má với nhau, ví dụ môn địa lý tên nước, thủ đô khác nhau; viết thủ đô của nước Pháp là Luân Đôn có mà...đi đầu xuống đất. Tôi làm bài tự tin, trôi chảy. Một câu khó nhất mà tôi cho là hay không bằng...hên vì tôi đã tìm thấy câu trả lời trong cuốn truyện của tủ sách Trăm Hoa cách đây hai ngày. Câu hỏi địa lý đó là: có bao nhiêu nước bị chia đôi như nước ta, hãy kể tên các nước đó. Tôi viết không đắn đo: có ba nước chia đôi tương tự như nước ta. Đó là Đông Đức, Tây Đức; Nam Hàn, Bắc Hàn; Trung Cộng, Đài Loan (nước Đức nay đã thống nhất sau sự kiện “Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989”). Đây là một câu hỏi thuộc loại kiến thức tổng quát, không có trong sách học, chỉ những đứa học trò nào đọc nhiều mới nắm vững được.
Buổi sáng tiếp theo tôi thi môn toán cuối cùng. Có một bài tỷ lệ xích, một bài phân số. Bài quy tắc tam suất nằm ở câu số ba, khó nhất. Bài toán quy tắc tam suất tôi làm gần hết bài thì trống đánh hết giờ. Tôi rời phòng thi mặt ỉu xìu như bánh bao chiều vì bài toán dang dở. Nỗi buồn rồi cũng nhẹ tênh vì dù sao tôi cũng đã vượt qua kỳ thi một cách suôn sẻ cho dù môn toán chưa đi đến đáp số.
Những ngày hè tôi lại ra bãi biển Thanh Bình dang nắng thả diều cùng thằng Tiếp, thằng Nhơn. Con diều no gió tung cánh trên trời xanh cũng là lúc những nhọc nhằn, lo âu về một mùa thi được tôi gởi lại cho trùng khơi đang lồng lộng gió ngàn.
Thằng Tuân rủ tôi đi coi điểm thi. Thằng Tuân học dưới tôi một lớp, nó đi coi điểm cho thằng Dũng, em bạn dì của nó. Hơn ba ngàn thí sinh, trường lấy sáu trăm. Mỗi bảng có tên 50 học sinh. Tôi sợ mình điểm thấp nên coi từ bảng cuối trở lên. Đến bảng thứ mười, không thấy tên mình tôi run như cầy sấy. Chỉ còn hai bảng nữa, lại điểm cao chót vót thì làm sao mà hy vọng. Tôi bần thần, ngẩn ngơ thì nghe tiếng thằng Tuân la lên: Mầy đậu rồi, ở bảng đầu tiên ấy. Tôi điếng hồn, thật hay mơ đây. Lạy trời! Mong thằng Tuân đừng xạo ke. Tôi chạy lại bảng số một. Đúng rồi! tên tôi nằm ở số thứ tự 39, đồng điểm số 26,5 với thằng ở số thự tự 36. Đó là thằng Hoà đen, học lớp 5B cùng trường. Coi lên trên tôi thấy còn có thằng Hưng học cùng lớp với thằng Hoà đen nằm ở số thứ tự 13. Xóm tôi kỳ thi đó chỉ tôi, thằng Thành con, thằng Lực ky đậu, còn lại rớt như sung rụng. Ừ mà còn thằng Tiếp cũng đậu, nhưng đậu tuốt ngoài Đại Lộc. Thằng Tiếp nói nó cố gắng học ở đó nửa niên khoá, thi xong đệ nhất lục cá nguyệt thì xin chuyển về học cùng trường với tôi. Thằng Nhơn rớt vào học Quốc Gia Nghĩa Tử, thằng Nghĩa con ông thiếu tá Soạn, thằng Dũng con bà Tộ học lại lớp nhất để sang năm thi lại (năm sau hai thằng này đều đậu). Con Thuỷ La Sát con ông đại uý Ba cùng thằng Sơn em nó học trường tư. Lớp tôi hai "cựu thù" Nguyên và Long béo trưởng lớp cùng đậu. Thằng Vinh, đối thủ của tôi cùng học lớp 6/5 với tôi. Thằng Nguyên bạn thân của tôi học lớp 6/6 cùng thằng Lễ, Long trưởng lớp học lớp 6/8 cùng thằng Bé đen. Thằng Trung "cận", thằng bạn "tiếp sức" để tôi bị thầy phạt quỳ trong bài viết "Thuyền giấy" học tuốt lớp 6/12. Long con ngồi cùng bàn với tôi học lớp 6/9. Còn có thằng Cẩm hay cắn móng tay cũng đậu, nó học đâu lớp 6/9 thì phải. Thằng Cẩm này còn "tái ngộ" cùng tôi khi tôi về học cấp III tại trường Quế Sơn. Lớp tôi còn có thằng Kiểm, Gioang cũng thi đậu nhưng vào lớp nào thì tôi không nhớ.
Ngày thi đệ thất tôi tuổi mười một, bây giờ tôi ngoài sáu mươi. Có người đã nói nơi xa nhất trên thế giới này là...quá khứ. Con người ta chỉ bước được đến tương lai chứ không thể ngược đường về quá khứ. Quá khứ chỉ quay về trong ký ức mỗi người khi con sóng kỷ niệm miên man nhắc nhớ. Mỗi khi ngang qua trường cũ, lòng tôi lại xôn xao nhớ về kỳ thi đệ thất ngày cũ. Bâng khuâng để tâm hồn lãng đãng khói sương rồi ru ta ngậm ngùi về một thời đã xa hun hút.
P/s Đề thi vào đệ thất năm 1970 (thiếu môn văn).
https://www.facebook.com/tai.ngo.75839923